- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn chị Nguyễn Thị L và bị đơn anh Tạ Văn B"
- Tòa quyết gì? 1/ Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Thị L và anh Tạ Văn B là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2018/HNGĐ-ST Ngày: 10-7-2018. V/v: Tranh chấp xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đẹp.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Lại Thiện Phong;
2/ Bà Nguyễn Thị Hiểu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đắc Mẫn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như - Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hồng Dân xét xử công khai vụ án thụ lý số: 75/2018/TLST-HN&GĐ ngày 05 tháng 4 năm 2018 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2018/QĐXXST-HN&GĐ ngày 25 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1972.
Địa chỉ: ấp L, thị trấn P, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
- Bị đơn: Anh Tạ Văn B, sinh năm 1974.
Địa chỉ: ấp N, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
(Chị L, anh B vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai ngày 03/5/2018, nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày như sau:
Vào năm 1993, chị Nguyễn Thị L và anh Tạ Văn B tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới, nhưng không có đăng ký kết hôn. Cuộc sống vợ chồng lúc đầu hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, không hợp tính tình và chị L đã ly thân với anh B khoảng 08 năm nay.
Về con chung: Chị L trình bày chị và anh B có một người con chung là cháu Tạ Anh Kha, sinh năm 1994. Hiện tại cháu Kha đã lớn và đã trưởng thành nên chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Tại bản khai ngày 03/5/2018, bị đơn anh Tạ Văn B trình bày như sau:
Vào năm 1993, anh B và chị Nguyễn Thị L tự nguyện tiên tới hôn nhân, nhưng không có đăng ký kết hôn. Cuộc sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm nên anh B và chị L đã ly thân nhau khoảng 08 năm nay. Nay, chị L yêu cầu được ly hôn thì anh B đồng ý.
Về con chung: Anh B trình bày anh và chị L có một người con chung là cháu Tạ Anh Kha, sinh năm 1994. Hiện tại cháu Kha đã lớn và đã trưởng thành nên anh B không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định pháp luật.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. thì nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Tại phiên tòa ngày hôm nay, nguyên đơn và bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Nguyện Thị L và anh Tạ Văn B là vợ chồng;
2. Về con chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết;
3. Về quan hệ tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Ngoài ra đương sự còn chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Nguyễn Thị L khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Tạ Văn B. Xét thấy chị L và anh B chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định. Do đó căn cứ khoản 8 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án thụ lý giải quyết vụ án là đúng quy định pháp luật.
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Tạ Văn B có nơi đăng ký thường trú và đang sinh sống tại ấp N, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Tại phiên tòa hôm nay, chị Nguyễn Thị L và anh Tạ Văn B vắng mặt nhưng chị L và anh B có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt.
Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 1993, giữa chị Nguyễn Thị L và anh Tạ Văn B có tổ chức đám cưới với nhau trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc nhưng đến nay không có đăng ký kết hôn. Theo Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình quy định việc kết hôn phải được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền. chị L và anh B đã sống chung với nhau từ năm 1993 nhưng đến nay vẫn không thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định. Quá trình chung sống giữa chị L và anh B phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn được nên chị L yêu cầu được ly hôn với anh B.
Do đó áp dụng Điều 14, Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử không công nhận giữa chị Nguyễn Thị L và anh Tạ Văn B là vợ chồng.
Về con chung: Qúa trình chung sống, chị Nguyễn Thị L và anh Tạ Văn B đều xác định giữa chị L và anh B có 01 người con chung là cháu Tạ Anh Kha, sinh năm 1994. Hiện tại cháu Kha đã trưởng thành và đã lập gia đình riêng nên chị L và anh B không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung: Chị L và anh B không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.
Về ý kiến phát biểu việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử xét thấy việc đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ và được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 8 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng các Điều 9, 14, 53 Luật hôn nhân và gia đình.
Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Thị L và anh Tạ Văn B là vợ chồng.
2/ Về con chung: Chị Nguyễn Thị L và anh Tạ Văn B không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
3/ Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị L và anh Tạ Văn B không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.
4/ Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị Nguyễn Thị L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Chị L đã dự nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005699 ngày 05/4/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nay chuyển thu thành án phí.
Đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ. Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp và cấp trên được quyền kháng nghị bản án này theo quy định pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND huyện Hồng Dân; - Chi cục THADS huyện Hồng Dân; - UBND xã Ninh Hòa, huyện Hồng Dân; - Đương sự. - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) LÊ VĂN ĐẸP |