vanban.org

Bản án 27/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Phạm Văn K và bà Lê Thị S.

Về nuôi con chung: Các con chung là cháu Phạm Vũ Lê P, sinh năm 1980; Phạm Huyền T, sinh năm 1985; Phạm Thùy D, sinh năm 1986 và Phạm Triều G, sinh năm 1988 đã trưởng thành và có khả năng lao động. Về chia tài sản: Không yêu cầu nên không giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh K xin ly hôn với chị S"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Phạm Văn K và bà Lê Thị S.
  • Căn cứ chính? Điều 17 Luật Phí và lệ phí; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 13/4/2018
“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Phú Phước

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Ngọ

2. Ông Lê Thanh Tú

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Thương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Yên– Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 4 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 257/2017/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2017 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2018/QĐST – HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Phạm Văn K, sinh năm 1954, vắng mặt

(Ông K có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa)

Địa chỉ: 140/40/1/1 tổ 36, khu phố 2, phường A, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Bà Lê Thị S, sinh năm 1961, vắng mặt

(Bà S vắng mặt tại phiên tòa không có lý do)

Địa chỉ: Khu phố 5, thị trấn T, huyện H , tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 21 tháng 11 năm 2017 và trong quá trình xét xử nguyên đơn Phạm Văn K trình bày:

Về hôn nhân: Ông đăng ký kết hôn với bà Lê Thị S tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận vào ngày 28/3/1980 (Giấy đăng ký số 18). Sau khi đăng ký kết hôn anh chị sống hạnh phúc hòa thuận, đến năm 2009 thì phát sinh mâu thuẫn không thể sống chung được nữa và ông bà đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay ông K xét thấy tình cảm vợ chồng giữa ông và bà S không còn nên ông xin ly hôn với bà S.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 04 con chung là cháu Phạm Vũ Lê P, sinh năm 1980; Phạm Huyền T, sinh năm 1985; Phạm Thùy D, sinh năm 1986 và Phạm Triều G, sinh năm 1988. Các con chung đã trưởng thành và có khả năng lao động.

Về chia tài sản: Ông K không yêu cầu giải quyết.

Trong quá trình xét xử, bị đơn Lê Thị S vắng mặt và không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về con chung, đã trưởng thành và có khả năng lao động. Về tài sản, đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa. Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân nhận định:

. Về hôn nhân: Hôn nhân của ông Phạm Văn K và bà Lê Thị S là hôn nhân hợp pháp. Sau một thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nghiêm trọng. Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Từ năm 2009, hai bên đã sống ly thân. Nay ông K xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu ly hôn với bà S. Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các quy định tại chương X Bộ luật tố tụng dân sự về việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho bà S nhưng bà không có ý kiến gì đối với yêu cầu của ông K. Do đó, có căn cứ chấp nhận cho ông K và bà S ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

. Về nuôi con chung: Ông K và bà S có 04 con chung là cháu Phạm Vũ Lê P, sinh năm 1980; Phạm Huyền T, sinh năm 1985; Phạm Thùy D, sinh năm 1986 và Phạm Triều G, sinh năm 1988. Các con chung đã trưởng thành và có khả năng lao động.

. Về chia tài sản: Ông K không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.

.Về án phí: Ông K phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 56, Luật hôn nhân và gia đình; Điều 17 Luật phí và lệ phí; Điều 27, Tiểu mục 1.1 Mục 1 Phần II (Danh mục án phí) Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Phạm Văn K và bà Lê Thị S.

2. Về nuôi con chung: Các con chung là cháu Phạm Vũ Lê P, sinh năm 1980; Phạm Huyền T, sinh năm 1985; Phạm Thùy D, sinh năm 1986 và Phạm Triều G, sinh năm 1988 đã trưởng thành và có khả năng lao động.

3. Về chia tài sản: Không yêu cầu nên không giải quyết.

4. Về án phí: Ông Phạm Văn K phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng ông K đã nộp theo Biên lai số 0016543 ngày 29/11/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ