vanban.org

Bản án 27/2018/DS-ST — Tranh chấp đất đai

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 28/12/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thi ̣

Ng1 đòi ông Nguyễn Đứ c Ph phải trả 47,33m2 đất tại thửa số 706 (thực chất là thử a 226) tờ bản đồ số 221-B-II ta ̣i Xuân Á ng , thị trấn Trường Sơn , huyê ̣n An Lao , thành phố Hảĩ Phòng và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số seri BB 582761 thử a số 706 (thực chất là thử… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai — án dân sự — "V/v tranh chấp đất đai"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thi ̣
  • Căn cứ chính? Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2018/DS-ST
Ngày 28-12-2018
V/v tranh chấp đất đai

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Xuân Quyết

Ông Nguyễn Thành Biên

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Thẩm tra viên của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Dỏn - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 12 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 46/2017/TLST - DS ngày 08 tháng 11 năm 2017 về tranh chấp đất đai theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3647/2018/QĐXXST - DS ngày 16 tháng 11 năm 2018 và Thông báo mở lại phiên tòa số 3811/TB-TA ngày11 tháng12 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ng1; nơi cư trú: Số 34/244 đường ĐN, phườ ng LV, quận NQ, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Đức Ph; nơi cư trú: Khu XA, thị trấn TS, huyện AL, thành phố Hải Phòng; vắng mă ̣t.

- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị T; nơi cư trú: Số 20, phố AC, AL 1, phường SD, quận HB, thành phố Hải Phòng; có mặt.

2. Bà Nguyễn Thị Ng2; nơi cư trú: Số 27/92, C, đường LB, phường LS, quận LC, thành phố Hải Phòng; có mặt.

3. Ông Nguyễn Đình Đ; nơi cư trú: Khu XA, thị trấn TS, huyện AL, thành phố Hải Phòng; vắng mă ̣t.

Ngườ i đại diê ̣n theo phá p luật của ông Nguyễn Đinh Đ : Bà Nguyễn Thị Ng1;

̀ nơi cư trú: Số 34/244 đường ĐN, quận NQ, thành phố Hải Phòng; có mặt.

4. Bà Nguyễn Thị Th; nơi cư trú: Khu XA, thị trấn TS, huyện AL, thành phố Hải Phòng; vắng mă ̣t.

5. Chị Nguyễn Thị Hải N; nơi cư trú: Khu XA, thị trấn TS, huyện AL, thành phố Hải Phòng.

6. Chị Nguyễn Thị Hải Y; nơi cư trú: Khu XA, thị trấn TS, huyện AL, thành phố Hải Phòng; vắng mă ̣t.

7. Anh Phùng Văn V; nơi cư trú: Khu XA, thị trấn TS, huyện AL, thành phố Hải Phòng; vắng mă ̣t.

8. Ủy ban nhân dân huyện AL, thành phố Hải Phòng; trụ sở: Số 17, đườ ng Nguyễn Văn Trỗi, thị trấn An Lão, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.

Ngườ i đại diê ̣n theo phá p luật : Ông Vũ Duy T - Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyê ̣n AL; vắng mă ̣t.

9. Văn phòng Đăng ký đất Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hải Phòng; trụ sở: Số 275, Lạch Tray, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Anh T - chức vụ, Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện An Lão (văn bản ủy quyền số 686/VPĐKĐĐ- HCTH ngày 02 tháng 11 năm 2018); vắng mă ̣t.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các bản khai, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Ng 1 trình bày: Năm 1981 cụ Trần Thị T1 (mẹ đẻ bà Ng1) nhận chuyển nhượng 02 gian nhà của ông Phạm Văn S ở thôn Xuân Áng, thị trấn Trường Sơn, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng với số tiền 1000đồng (một nghìn đồng).

Căn cứ vào kết quả thanh tra ngày 18 tháng 7 năm 2005 thì thửa đất cụ T mua có diện tích 189m2 tại thửa 437 tờ bản đồ số 04 thôn Xuân Áng, thị trấn Trường Sơn, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Trong 189m2 này:

- Ngày 07 tháng 12 năm 2004, gia đình bà nhận bồi thường giải phóng mặt bằng quốc lộ 10 là 3.219.000đồng (tương đương 32,19m2).

- Ngày 31 tháng 8 năm 2012, Tòa án nhân dân Hải Phòng xét xử phúc thẩm buộc bà Bùi Thị Th trả cho gia đình bà 83,18m2 tại thửa 437 tờ bản đồ số 04 thôn Xuân Áng, thị trấn Trường Sơn, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.

Như vậy tổng cộng diện tích đất bà Bùi Thị Th phải trả cho gia đình bà và diện tích đất bồi thường là 115,36m2. Diện tích đất gia đình bà còn thiếu là 73,64m2.

Nay bà cho rằng, gia đình ông Nguyễn Đức Ph đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây được viết là GCNQSDĐ) thửa 706 tờ bản đồ số 221-B-II có diện tích 223m2 là không đúng vì ông Ph đã lấn chiếm đất của gia đình bà. Do vậy, bà yêu cầu hủy Giấy chứng nhận số 582761, thửa 706, tờ bản đồ số 221-B-II, diện tích 223m2 tại khu Xuân Áng, thị trấn An Lão, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng mà Ủy ban nhân dân huyện An Lão đã cấp cho gia đình ông Nguyễn Đức Ph và ông Nguyễn Đứ c Ph phải trả lại 73,64m2 đất cho gia đình bà. Sau khi tinh

́ toán lại số liệu thì tại đơn đề nghị ngày 04 tháng 6 năm 2018, bà Nguyễn Thị Ng1 chỉ yêu cầu ông Nguyễn Đức Ph phải trả lại cho gia đình bà 47,33m2 đất nằm trong diện tích 223m2 tại thửa thửa 706, tờ bản đồ số 221-B-II, tại khu Xuân Áng, thị trấn An Lão, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.

Bị đơn là ông Nguyễn Đứ c Ph trình bày: Nguồn gốc diê ̣n tich đất của nhà ông

́ là do bố ông xin của Hợp tác xã và bố ông đã xây tường bao bằng gạch ba banh với vôi vữa, hiê ̣n nay móng của tườ ng bao vẫn còn. Sau khi xin đất bố ông còn cho chi ̣ gái ông là bà Nguyễn Thị L ở. Năm 1980, ông đi bô ̣ đô ̣i về thi ở trên đất. Diê ̣n tich

̀

́ đất ông đa đượ̃

c cấp GCNQSDĐ và ông đa cho con gã

́i là Nguyễn Thi ̣ Hải Nam , con gái ông đa đượ̃

c cấp GCNQSDĐ. Trướ c đây bà Nguyễn Thi ̣ Ng1 có tranh chấp đất vớ i bà B ùi Thị Th, khi Tòa án xác đi ̣nh mốc giớ i thi ông có mă ̣t ký giáp ranh

̀ vớ i nhà bà Nguyễn Thi ̣ Ng1, lúc đó nhà bà Nguyễn Thị Ng1 không có ý kiến gi .

̀ Sau khi bà Nguyễn Thi ̣ Ng1 đòi được đất của nhà bà Bùi Thi ̣ Th thì bà Nguyễn Thi ̣ Ng1 làm GCNQSDĐ thì chính bà Nguyễn Thị Ng1 là người mang hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ cho ông ký giáp ranh . Bà Nguyễn Thị Ng1 kiê ̣n đòi đất nhà ông là không có căn cứ , ông không đồng ý vớ i yêu cầu khở i kiê ̣n của bà Nguyễn Thị Ng1.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ng2, Nguyễn Thi ̣ T trình bày: Thống nhất vớ i lờ i trinh bày của bà Nguyễn Thi ̣ Ng1.

̀

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Hải N trình bày: Thống nhất lời trình bày của ông Nguyễn Đứ c Ph.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Th , chị Nguyễn Thị Hải Y, anh Phù ng Văn V: Đa đượ̃

c Tòa án triê ̣u tâ ̣p nhiều lần nhưng không đến tòa, không có ý kiến.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Ng1 trình bày: Vẫn giữ nguyên yêu cầu khở i kiê ̣n buô ̣c ông Nguyễn Đứ c Ph phải trả lại cho gia đinh bà 47,33m2 đất nằm trong

̀ diện tích 223m2 tại thửa thửa 706, tờ bản đồ số 221-B-II, tại khu Xuân Áng, thị trấn An Lão, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng và hủy GCNQSDĐ số 582761, thửa 706, tờ bản đồ số 221-B-II, diện tích 223m2 tại khu Xuân Áng, thị trấn An Lão, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng mà Ủy ban nhân dân huyện An Lão đã cấp cho gia đình ông Nguyễn Đức Ph. Vì so với B áo cáo kết quả thanh tra số 14/BC-TTr ngày 18 tháng 7 năm 2005 của Thanh tra huyện An Lão đất của gia đinh bà còn thiếu . Bà không nhất trí với Biên bản làm việc ngày 10 tháng 5 năm ̀ 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòn g vớ i Thanh tra huyê ̣n An Lao vã

̀ ông Nguyễn Văn Phương vi không đúng vớ i Báo cáo kết quả thanh tra số 14/BC-

̀ TTr ngày 18 tháng 7 năm 2005 của Thanh tra huyện An Lão . Diê ̣n tich đất có

́ nguồn gốc me ̣ bà mua củ a ông Nguyễn Văn S . Khi mua không đo diê ̣n tich nhưng

́ ông Nguyễn Văn S có chỉ mốc giới , diê ̣n tich đất này trướ c đây thuô ̣c thử a 437 tờ

́

bản đồ số 4 (theo báo cáo ngày 18 tháng 7 năm 2005 của Thanh Tra huyện An Lão), nếu đứ ng từ phia núi nhin và o thi 47,33m2 đất nằm phia bên tay phải diê ̣n

́

̀

̀

́ tích đất mà gia đình bà đã được cấp GCNQSDĐ có chiều ngang là 7m và chiếu sâu vào 6m. Sau khi đòi được đất của bà Bùi Thi ̣ Th thì bà lơ mơ không biết được đất còn thiếu, mãi sau khi cưỡng chế được 01 năm (năm 2015) thì bà mới phát hiện đất còn thiếu. Trong thâm tâm thi bà không muốn kiê ̣n ông Nguyễn Đứ c Ph nhưng vi

̀

̀ chính quyền địa phương làm sai , cấp cả đất của gia đinh bà cho ông Nguyễn Đứ c

̀ Ph nên bà muốn chinh quyền đi ̣a phương trong đó có ông Nguyễn Văn Ph

1

́ (nguyên la can bô ̣ đi ̣a chinh va la Chủ ti ̣ch Ủ y ban nhân dân thi ̣ trấn Trương Sơn )

̀ ́

́

̀ ̀

̀ và ông Nguyễn Đức Ph phải trả lại đất cho gia đình bà. Bà đề nghị Tòa án xem xét thế nào cho đúng vớ i các văn bản cũ, Báo cáo kết quả thanh tra số 14/BC-TTr ngày 18 tháng 7 năm 2005 của Thanh tra huyện An Lão mới là đúng.

Những ngườ i có quyền lợi nghia vụ liên quan bà Nguyễn Thi ̣ T , Nguyễn Thi ̣

̃

Ng2: Thống nhất vớ i lờ i trinh bày của bà Nguyễn Thi ̣ Ng1.

̀

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tại phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm, thư ký đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý cho đến phiên tòa. Nguyên đơn và những ngườ i có quyền lợi nghia vu ̣̃

liên quan đứ ng về phia nguyên

́ đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ, tham gia phiên tòa theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứ ng về phia bi ̣ đơn , Ủy ban nhân dân huyện An Lão chưa chấp hành đúng

́ quy định về quyền và nghĩa vụ tố tụng về việc cung cấp chứng cứ và có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án.

Về nội dung:

Về yêu cầu đò i đất : Căn cứ lời khai nhân chứng như: Lờ i khai của bà Dương Thị Ch (vợ ông Phạm Văn S), ông Phùng Minh T2, ông Nguyễn Văn T3, ông Phùng Văn L, bà Bùi Thị Th thì hiện trạng thửa đất của nhà bà Nguyễn Thị Ng1 từ khi mua của ông Pha ̣m Văn S cho đến khi bà Bùi Thị Th sử dụng diện tích đất vẫn nguyên trạng

Biên bản xác minh ngày 10 tháng 5 năm 2018 tại Thanh tra huyện An Lão của Tòa án nhân dân thành phố, ông Bùi Đình Đ và ông Nguyễn Văn Ph (là người cung cấp số liệu phục vụ thanh tra năm 2005 đối với diện tích đất của bà Nguyễn Thị Ng1) thừa nhận: Tại Báo cáo số 14/BC-TTr ngày 18 tháng 7 năm 2005 của Thanh tra huyện xác định năm 1972 ông Phạm Văn S được bố mẹ để lại 03 thửa đất, trong đó có thửa 437 diện tích 189m2, ngày 08 tháng 12 năm 1981 ông Phạm Văn S bán cho bà Trần Thi ̣ T thửa có diện tích 189m2 là không chính xác. Theo tờ bản đồ giải thửa năm 1985 thì thửa 437 (của tờ bản đồ năm 1972) có 02 chủ sử dụng là ông Phùng Minh T và ông Dự (chồng bà Ngấn).

Theo bản đồ giải thửa các năm 1972, 1985, 1996 và Báo cáo giải trình số 10a ngày 12 tháng 7 năm 2008 của Ủy ban nhân dân thị trấn Trường Sơn, huyện An Lão đều thể hiện thửa đất số 437 (tờ bản đồ năm 1972) mang tên cụ Nguyễn Thi ̣ M có diện tích 189m2 nằm liền kề thửa 438 của cụ Nguyễn Thi ̣ M có diện tích 1.011m2. Sang tờ bản đồ năm 1985 thửa 438 chuyển thành thửa 831, mang tên ông Nguyễn Văn Th (con cụ M), còn thửa 437 chuyển thành thửa 834, diện tích 159m2 mang tên ông Phùng Minh T. Tuy nhiên, tờ bản đồ năm 1985 có 02 thửa số 834, một thửa có diện tích 159m2 và một thửa có diện tích 76m2. Chính quyền xác định do nhầm lẫn nên đã ghi thửa 159m2 mang tên ông Phùng Minh T, trong đó thửa 834 có diện tích 76m2 mới có vị trí tiếp giáp phần đất của bà L (hiện nay là ông Ph).

Đối với phần diện tích đất của ông Ph, theo bản đồ giải thửa 1972 là của chủ sử dụng Nguyễn Đức X và đất trồng màu của Hợp tác xã , đến năm 1985 ghi số thửa 974, chủ sử dụng là ông Hoàng Văn H (chồng bà L), quá trình sử dụng chuyển nhượng qua nhiều người và đến nay ông Ph là người sử dụng.

Quá trình giải quyết vụ án giữa bà Nguyễn Thi ̣ Ng1 và bà Bùi Thị Th năm 2011 và khi lập hồ sơ đề nghị cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất, bà Nguyễn Thi ̣ Ng1 chỉ đề nghị cấp GCNQSDĐ đối với diện tích 83,17m2, tại biên bản xác định mốc giới bà Nguyễn Thi ̣ Ng1 và ông Nguyễn Đứ c Ph đã ký xác nhận mốc giới giáp ranh giữa 02 thửa đất, không có tranh chấp.

Từ những tài liệu, chứng cứ nêu trên cho thấy không có căn cứ xác định diện tích đất của cụ Trần Thi ̣ T để lại có diện tích 189m2 và ông Nguyễn Đức Ph là người lấn chiếm như yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ng1.

Về yêu cầu hủy GCNQSDĐ: Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ thể hiện diện tích đất tranh chấp trước đây của ông Trần Thành D đã được cấp GCNQSDĐ ngày 25 tháng 11 năm 2004, đến ngày 10 tháng 10 năm 2008 ông Trần Thành D chuyển nhượng cho ông Nguyễn Đứ c Ph theo đúng quy định pháp luật. Hơn nữa năm 2005 giữa bà Nguyễn Thi ̣ Ng1 với bà Bùi Thị Th chỉ tranh chấp đối với diện tích đã được cấp GCNQSDĐ cho bà Nguyễn Thi ̣ Ng1 như hiện nay, không tranh chấp với diện tích đất của ông Trần Thành D (sau chuyển nhượng cho ông Nguyễn Đứ c Ph).Vì vậy, Ủy ban nhân dân huyện cấp GCNQSDĐ cho ông Nguyễn Đức Ph là đúng quy định Điều 50 Luật đất đai năm 2003.

Từ phân tich trên, đề nghị Hội đồng xét xử k hông chấp nhâ ̣n toàn bô ̣ yêu cầu

́ khở i kiê ̣n của bà Nguyễn Thi ̣ Ng1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào lờ i trinh bày của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

̀

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án dân sự tranh chấp về đất đai theo khoản 9 Điều 26, khoản 4 Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Xét yêu cầu đòi quyền sử dụng 47,33m2 đất của bà Nguyễn Thi ̣ Ng1.

Bà Nguyễn Thị Ng1 kiện đòi ông Ph phải trả cho bà 47,33m2 đất thửa 706, tờ bản đồ số 221-B-II, khu Xuân Áng, thị trấn An Lão, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng vì cho rằng năm 1981 cụ Trần Thị Túy (là mẹ bà Nguyễn Thị Ng1) mua của ông Pha ̣m Văn Sáng 02 gian nhà và theo Báo cáo kết quả thanh tra ngày 18 tháng 7 năm 2005 thì thửa đất cụ Trần Thị Túy mua là thửa 437, tờ bản đồ số 04 có diện tích là 189m2 đất. Sau khi trừ diê ̣n tich bà được cấp GCNQSDĐ và diê ̣n

́

tích Nhà nước thu hồi thì diện tích nhà bà còn thiếu 47,33m2 đất. Như vâ ̣y, vấn đề phải xem xét trong vụ án là cụ Trần Thị Túy mua hai gian nhà c

ủa cụ Sáng bao nhiêu m2 ? Và diện tích đất mua bán là bao nhiêu? Xét:

Theo lờ i khai của bà Nguyễn Thi ̣ Ng1 thì bà chỉ biết cụ Trần Thị T mua của cụ Sáng 02 gian nhà, không biết là bao nhiêu m2, bà cũng không chỉ được ranh giớ i, mốc giớ i, tứ câ ̣n cu ̣ thể là như thế nào . Tài liệu nguyên đơn xuất trình là Đơn nhượng nhà của cu ̣ Pha ̣m Văn Sáng đề ngày 08 tháng 12 năm 1981 thì nội dung đơn cũng chi ghi cu ̣̉

Pha ̣m Văn S nhượng cho cu ̣ Trần Thi ̣ T 02 gian nhà vớ i số tiền là 1.000đồng. Trong đơn không ghi diê ̣n tich 02 gian nhà cũng như diê ̣n tich đất

́

́ mua bán. Bà Nguyễn Thị Ng1 chỉ căn cứ vào Báo cáo kết quả thanh tra ngày 18 tháng 7 năm 2005 của Thanh tra huyện An Lão k hi giải quyết kiến nghi ̣ của bà Nguyễn Thi ̣ Ng1 khi bà có tranh chấp đất vớ i bà Bùi Thi ̣ Th để làm căn cứ xác đi ̣nh diê ̣n tich đất cụ T mua là 189m2 tại thửa 437 tờ bản đồ số 04 thôn Xuân Áng,

́ thị trấn Trường Sơn, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.

Trong Báo cáo kết quả thanh tra số 14/BC-TTr ngày 18 tháng 7 năm 2005 của Thanh tra huyện An Lão thì tại mục 1 phần I - Kết quả thanh tra , xác minh của Báo cáo có nô ̣i dung : “Năm 1972 ông Phạm Văn S được bố mẹ để lại cho 03 thử a ....thử a 437 có diện tích 189m2 đất ......Ngày 08/12/1981, ông Phạm Văn Sá ng bán hai gian nhà nằ m trên thử a 437 có diện tích 189m2 đất cho bà Trần Thị T....„. Và tại phần II - Nhâ ̣n xét, kết luâ ̣n của Báo cáo có nô ̣i dung : “Qua xá c minh....thấy: Ngày 08/12/1981, ông Phạm Văn S ....đã bá n nhà và 189m2 đất cho bà Trần Thị Túy..... ”.

Tuy nhiên, tại Biên bản làm việc ngày 10 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng vớ i Thanh tra huyê ̣n An Lao thĩ

đa ̣i diê ̣n Thanh tra

̀ huyê ̣n đa khẵ

̉ng đi ̣nh hai nô ̣i dung nêu trên của báo cáo là chưa chinh xác và không

́ phù hợp với tài liệu có trong hồ sơ thanh tra . Vì, theo tài liê ̣u trong hồ sơ thanh tra thì: Theo Biên bản xác minh ngày 10 tháng 5 năm 2005, Ủy ban nhân dân thị xã Trườ ng Sơn cung cấp thi ta ̣i tờ bản đồ giải thử a năm 1972 thể hiê ̣n thử a đất 437 tờ

̀ bản đồ số 4 có diện tích 189m2 đất là của gia đinh ông Nguyễn Văn Th bà Nguyễn

̀

Thị M. Tại tờ bản đồ giải thửa năm 1985 thì thửa 437 của tờ bản đồ năm 1972 có hai chủ sử du ̣ng là ông Phùng Minh T và ông Nguyễn Văn D (chồng bà Nguyễn Thị Ng) chứ không phải mô ̣t chủ sử du ̣ng . Và theo Biên bản xác minh ngày 10 tháng 5 năm 2005 thì bà Dương Thị Ch là vợ ông Phạm Văn S cung cấp gia đinh

̀ bà có mua đất của ông Nguyễn Đinh Th sau đó làm hai gian nhà và bán cho bà

̀

Trần Thi ̣ T diê ̣n tich đất không đo.

́

Tại Báo cáo số 10a/BC-UBND ngày 12 tháng 7 năm 2018 của Ủy ban nhân dân thi ̣ trấn Trườ ng Sơn thể hiê ̣n : Tại tờ bản đồ năm 1972 thử a 437 tên chủ sử du ̣ng là Nguyễn Thi ̣ M có diện tích 189m2, tại tờ bản đồ năm 1985 thử a 437(của năm 1972) được chia làm hai thử a đều là 834, trong đó mô ̣t thử a có diê ̣n tich là

́ 159m2 và một thửa có diện tích là 76m2. Tại thời điểm lập bản đồ năm 1985 khi ghi tên chủ sử du ̣ng đất trong sổ mu ̣c kê đa cõ ́ sự nhầm lẫn và ghi thiếu thử a 834 có diện tích 76m2 đồng thờ i ghi nhầm tên chủ sử du ̣ng thử a 834 có diện tích 159m2 mang tên Phùng Minh Ton. Hiê ̣n tra ̣ng thực tế thử a 834 có diện tích 159m2 không phải mang tên Phùng Minh T mà mang tên Nguyễn Thi ̣ M (thử a đất này sau này cu ̣ Nguyễn Thi ̣ M đa trao đỗ

̉i đất vớ i gia đinh bà Đồng Thi ̣ Ng để gia đình bà Đồng

̀

Thị Ng được sử du ̣ng đi trực tiếp ra đườ ng TL 360, sau này bà Đồng Thi ̣ Ng chia cho các con cháu là ông Nguyễn Văn T , bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Văn H và từ đó không có tranh chấp với ai) còn ông Phùng Minh T sử du ̣ng thử a 834 có diện tích 76m2. Thử a đất 225 tờ bản đồ 221-B-II của tờ bản đồ năm 1996 chính là thửa 834 có diện tích 76m2 của tờ bản đồ năm 1985.

Lời khai của những người làm chứng gồm: bà Dương Thị Ch (vợ ông Phạm Văn S) xác định vợ chồng bà mua của cụ Nguyễn Thi ̣ M bao nhiêu mét thì bán cho cụ Trần Thi ̣ T bấy nhiêu mét, không đo cụ thể, diện tích đất ông Nguyễn Đức Ph không liên quan gì đến đất cụ Trần Thi ̣ T. Ông Phùng Minh T xác định có mượn đất cụ Trần Thi ̣ T sử dụng từ năm 1982 đến đầu năm 1984, khi ông trả nhà đất cho cụ thì diện tích đất cũng chỉ như hiện trạng khi bà Bùi Thị Th ở. Lời khai ông Nguyễn Văn T, ông Phùng Văn L, bà Bùi Thị Th là những người sử dụng đất sau ông Phùng Minh T đều xác định khi mua bán chuyển nhượng từ ông Phùng Minh T đến khi bà Bùi Thị Th sử dụng diện tích đất vẫn nguyên trạng, không thay đổi về ranh giớ i, mốc giớ i.

Hơn nữa, năm 2011 khi bà Nguyễn Thi ̣ Ng1 tranh chấp đất vớ i bà Bùi Thị Th, Hô ̣i đồng đi ̣nh giá xem xét thẩm đi ̣nh xác đi ̣nh ranh giớ i

, mốc giớ i bà Nguyễn Thi ̣ Ng1 không có ý kiến gi vớ i diê ̣n tich đất nhà ông Nguyễn Đứ c Ph, sau

̀

́

khi được Tòa án chấp nhâ ̣n yêu cầu khở i kiê ̣n buô ̣c bà Bùi Thi ̣ Th phải trả lại cho bà Nguyễn Thị Ng1 83,17m2 đất, gia đinh bà Nguyễn Thi ̣ Ng1 không có ý kiến gi.

̀

̀ Khi bà Nguyễn Thi ̣ Ng1 đi làm thủ tu ̣c cấp GCNQSDĐ thi chinh bà Nguyễn Thi ̣

̀

́ Ng1 là ngườ i mang hồ sơ đến cho ông Nguyễn Đứ c Ph ký giáp ranh tứ cận.

Vớ i các tài liê ̣u nêu trên thi có cơ sở xác đi ̣nh thử a đất 437 tờ bản đồ số

̀

4 của bản đồ giải thửa năm 1972 khi chuyển sang tờ bản đồ năm 1985 thì được chia làm hai thử a cùng được đánh số 834, trong đó mô ̣t thử a 834 có diện tích 159m2. và một thửa 834 có diện tích 76m2 và hai gian nhà mà cu ̣ Trần Thi ̣ T mua của ông Phạm Văn S nằm ta ̣i thử a là thử a 834 của tờ bản đồ năm 1985 có diện tích 76m2 (là một phần của thử a 437, tờ bản đồ số 4 bản đồ giải thửa năm 1972). Thử a đất này khi bà Nguyễn Thi ̣ Ng1 tranh chấp vớ i bà Bùi Thi ̣ Th đo thực tế là 83,17m2, năm 2015 bà Nguyễn Thị Ng1 đa được Ủ y ban nhân dân huyê ̣n An Lao

̃

̃ cấp GCNQSDĐ có số thử a là 225, tờ bản đồ số 221-B-II khu Xuân Á ng , thị trấn Trườ ng Sơn, huyê ̣n An Lao, thành phố Hải Phòng.̃

Theo bà Nguyễn Thi ̣ Ng1 thì diện tích 47,33m2 đất bà đòi ông Nguyễn Đức Ph trả lại nằm trên thửa 706, tờ bản đồ số 221-B-II, tại khu Xuân Áng, thị trấn An Lão, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Xét, tại Báo cáo số 10a/BC-UBND ngày 12 tháng 7 năm 2018 của Ủy ban nhân dân thị trấn T rườ ng Sơn thể hiê ̣n: Tại thờ i điểm cấp GCNQSDĐ do bi ̣ nhầm lẫn nên ghi thử a 706. Trên tờ bản đồ số 221-B-II, tại khu Xuân Áng, thị trấn An Lão, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng không có số thử a 706, thực tế là thử a 226. Nguồn gốc thử a đất này là theo tờ bản đồ năm 1972 thử a đất này là thử a 432 và 433 có chủ sử du ̣ng là Nguyễn Đứ c X và đất trồng màu của Hợp tác xã . Sang đến tờ bản đồ năm 1985 thử a đất này là thử a 974 chủ sử dụng là Hoàng Văn H (anh rể ông Ph), sau đó ông H chuyển nhượng cho nhiều ngườ i, cuối cùng ông Ph mua lại của ông Trần Thành D.

Như vâ ̣y, thử a đất cu ̣ Trần Thi ̣ T mua của ông Pha ̣m Văn S là một phần của thửa 437 tờ bản đồ số 4 của tờ bản đồ giải thửa năm 1972 (mang tên chủ sử dụng là Nguyễn Thi ̣ M ) còn thửa số 706 (thực chất là thử a số 226) tờ bản đồ số 221-B-II ta ̣i Xuân Á ng ma Ủ y ban nhân dân huyê ̣n An Lao cấp GCNQSDĐ ngay

̀

̃

̀ 26 tháng 8 năm 2010 có số seri BB 582761 lại là thửa 432 và 433 của tờ bản đồ giải thửa năm 1972 (mang tên chủ sử du ̣ng là Nguyễn Đứ c X và đất trồng màu của Hợp tác xã).

Từ phân tich trên , không có căn cứ chấp nhâ ̣n yêu cầu của bà Nguyễn

́ Thị Ng1 đòi ông Nguyễn Đứ c Ph phải trả lại cho gia đình bà 47,33m2 đất.

Về yêu cầu hủy GCNQSDĐ đa cẫ ́p cho ông Nguyễn Đứ c Ph: Theo đơn khở i kiê ̣n, bà Ng1 yêu cầu hủy GCNQSDĐ có số seri BB 582761 thử a số 706 tờ bản đồ số 221-B-II diê ̣n tich 223m2 đất ta ̣i Xuân Á ng do Ủ y ban nhân dân huyê ̣n

́ An Lao cẫ

́p cho ông Nguyễn Đứ c Ph ngày 26 tháng 8 năm 2010. Xét: Theo hồ sơ cấp GCNQSDĐ223m2 đất thử a số 706 (thực chất là thử a 226) tờ bản đồ số 221-B-II ta ̣i Xuân Á ng thì ông Trần Thành D đa đượ̃

c cấp GCNQSDĐ ngày20 tháng 11 năm 2004. Năm 2008, ông Trần Thành D bán lại cho ông Nguyễn Đứ c Ph và ông Nguyễn Đức Ph đa đượ̃

c cấp GCNQSDĐ ngày 03 tháng 11 năm 2008. Ngày 28 tháng 7 năm 2010 ông Nguyễn Đứ c Ph tă ̣ng cho con gái là Nguyễn Thi ̣ Hải N và hiê ̣n chi ̣ Nguyễn Thị Hải N là người đứng tên chủ sử dụng trênGCNQSDĐ có số seri BB 582761 thử a số 706 (thực chất là thử a 226) tờ bản đồ số 221-B-II diê ̣n tich 223m2 đất ta ̣i Xuân

́ Áng do Ủy ban nhân dân huyện An Lão cấp ngày 26 tháng 8 năm 2010. Như vâ ̣y, thử a đất số 706 (thực chất là thử a 226) tờ bản đồ số 221-B-II, khu Xuân Á ng , thị trấn Trương Sơn , huyê ̣n An Lao , thành phố Hả i Phong được Ủ y ban nhân dân

̀

̃

̀ huyê ̣n An Lao cẫ

́p GCNQSDĐ ngày 26 tháng 8 năm 2010 không liên quan gi đến

̀ thử a đất của ông Pha ̣m Văn S mua của cu ̣ Nguyễn Thi ̣ M sau đó bán cho cu ̣ Trần Thị T, gia đinh ông Nguyễn Đứ c Ph không sử dụng đất của gia đình bà Nguyễn

̀ Thị Ng1 nên không chấp nhâ ̣n yêu cầu của bà Nguyễn Thi ̣

Ng1 đề nghị hủy GCNQSDĐ có seri BB 582761 thử a số 706 (thực chất là thử a 226) tờ bản đồ số 221-B-II diê ̣n tich 223m2 đất ta ̣i Xuân Á ng do Ủy ban nhân dân huyện An Lão cấp

́ ngày 26 tháng 8 năm 2010. Tuy nhiên, khi cấp GCNQSDĐ có ghi nhầm số thử a 226 thành 706 vì vâ ̣y chi ̣ Nguyễn Thi ̣ Hải N có thể yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện An Lao , Văn phõ

̀ng đăng ký đất đai chi nhá nh huyê ̣n An Lao đĩ

nh chinh la ̣i số

́

́ thử a.

Từ phân tich trên, không chấp nhâ ̣n yêu cầu khở i kiê ̣n của bà Nguyễn Thi ̣

́ Ng1.

Về các chi phí tố tụng xem xét thẩm định và định giá tài sản : Bà Nguyễn Thị Ng1 phải chịu chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản , bà Nguyễn Thị Ng1 đa nô ̣̃ p đủ.

Về án phí dân sự sơ thẩm : Yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận , do vậy bà Nguyễn Thi ̣ Ng1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên bà Nguyễn Thi ̣ Ng1 thuộc đối tượng người cao tuổi, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 48 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí cho bà Nguyễn Thị Ng1.

Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các đương sự có mặt, các đương sự vắng mặt nhưng có người đại diện theo ủy quyền có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 34, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính;

Căn cứ Điều 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 48 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thi ̣

Ng1 đòi ông Nguyễn Đứ c Ph phải trả 47,33m2 đất tại thửa số 706 (thực chất là thử a 226) tờ bản đồ số 221-B-II ta ̣i Xuân Á ng , thị trấn Trường Sơn , huyê ̣n An Lao , thành phố Hảĩ Phòng và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số seri BB 582761 thử a số 706 (thực chất là thử a 226) tờ bản đồ số 221-B-II diê ̣n tich 223m2 đất ta ̣i khu Xuân

́ Áng, thị trấn T rường Sơn, huyê ̣n An Lao , thành phố Hải Phòng do Ủy ban nhâñ dân huyê ̣n An Lao cẫ

́p ngày 26 tháng 8 năm 2010.

2. Về án phí:

Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thi ̣ Ng1. Hoàn trả bà Nguyễn Thi ̣ Ng1 số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 5.500.000 đồng theo Biên lai số 0003988 ngày 08 tháng 11 năm 2018 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.

3. Về chi phí thẩm đi ̣nh và đi ̣nh giá tài sản: Các đương sự đã nộp đủ.

4. Về quyền kháng cáo của các đương sự:

- Các bà Nguyễn Thị Ng1, Nguyễn Thi ̣ Tấn , Nguyễn Thi ̣ Ng2, ông Nguyễn Đinh Đ được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. ̀

- Ông Nguyễn Đứ c Ph, bà Nguyễn Thị Th, chị Nguyễn Thị Hải N, chị Nguyễn Thị Hải Y , anh Phùng Văn V , Ủy ban nhân dân huyện An Lão , Văn phòng Đăng ký đất đai Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hải Phòng được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ