vanban.org

Bản án 27/2017/HSST — Hình sự

TAND TX. An Khê, tỉnh Gia Lai Tuyên án 18/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành D phạm tội “Hủy hoại tài sản”;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành D 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Khấu trừ 10% thu nhập hàng tháng của bị cáo trong thời gian cải… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành D "Hủy hoại tài sản" - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 143 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành D phạm tội “Hủy hoại tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 143 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ AN KHÊ - TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2017/HSST
Ngày: 18/9/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN KHÊ - TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đồng Ánh Đông.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Huê - Nguyên Hiệu trưởng Trường THCS Trưng Vương, thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai.

2. Ông Bùi Sỹ Hiền - Phó Bí thư Đoàn phường An Phú, thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Hường - Thư ký TAND thị xã An Khê.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Khê tham gia phiên tòa: Ông Dư Quang Đạo - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở TAND thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2017/HSST ngày 22/8/2017 đối với bị cáo:

Nguyễn Thành D sinh ngày 04/4/1977 tại An Khê, Gia Lai; trú tại: Thôn TA3, xã SA, thị xã AK, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 2/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; con ông Nguyễ n B và bà Trầ n Thị L (Chế t); có vợ là Dương Thị Th và có 04 con, lớ n nhấ t sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại; có mặt.

* Người bị hại: Ông Nguyễn B sinh năm 1933; trú tại: Thôn TA1, xã SA, thị xã AK, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

NHẬN THẤY:

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Sau năm 1975 ông Nguyễn B và vợ bà Trần Thị L cùng trú tại thôn TA1, xã SA, thị xã AK khai hoang diện tích đất rừng khoảng 7.720m2 tại khu vực Hầm Quạt (tục danh) thôn TA3, xã SA, thị xã AK để trồng cây mỳ và nộp thuế cho Hợp tác xã Nông nghiệp SA (diện tích đất 7.720m2 chưa có giấ y Chứ ng nhậ n quyề n sử dụng đất của ông B). Ông B, bà L sử dụng đất này trồng cây nông nghiệp liên tục, ngay tì nh, công khai cho đến năm 2001 thì bà L bị bệ nh nằm một chỗ . Ông B đại diện gia đình giao diện tích đất 7.720m2 cho con ruột là Nguyễn Thành D trồng cây vớ i thỏa thuận hằng năm D cho ông B số tiề n 3.000.000đ.

Từ năm 2001 đến năm 2014, D sử dụng diện tích đất 7.720m2 trồng cây mỳ nhưng không thự c hiệ n thỏ a thuậ n trả tiền cho ông B

và bỏ hoang đất . Ngày 05/3/2016 bà L chết, ông B đòi lại diện tích đất trên để trồng cây Keo thì cha (Nguyễn B) và con trai (Nguyễn Thành D) xảy ra tranh chấp đất và được Uỷ ban nhân dân xã SA giải quyết xác nhận nguồn gốc diện tích đất 7.720m2 tại khu vực Hầm Quạt (tục danh) là do ông B khai hoang từ trước. D không đồng ý cho rằng diện tích đất 7.720m2 của ông B có phần do D khai hoang trồng cây và nảy sinh ý định khi nào ông B trồng cây trên khoảnh đất trên thì D phá hoại.

Tháng 10/2016 ông B mua 4.000 cây Keo con về trồng trên diện tích đấ t 7.720m2, Nguyễn Thành D bực tức về việc ông B đòi lại đất nên vào khoả ng 14 giờ ngày 02/02/2017, D lấy chai thuốc trừ cỏ hiệu “Cỏ cháy USA 20SL” thể tích 450ml mua trước đó hòa tan với 30 lít nước, sau đó đổ hỗn hợp thuốc diệt cỏ vào bình phun (loại bình phun thuốc cao 60cm, rộng 35 cm) rồ i phun hai lầ n vào diện tích đất 4.409 m2 tại khu vực Hầm Quạt thuộc thôn T A3, xã SA của ông B đã trồng cây Keo, làm 1.750 cây Keo bốn tháng tuổi, đường kính thân cây trung bình từ 0,3cm - 0,5cm, cây cao nhất 70cm, thấp nhất 20cm bị cháy lá, thân cây khô héo chết.

Ngày 16/02/2017, ông Nguyễ n B làm đơn tố giác hành vi hủy hoại của Nguyễ n Thà nh D.

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thị xã đã thu giữ vậ t chứ ng củ a vụ án:

- 01 chai nhự a hì nh chữ nhậ t vỏ mà u trắ ng, nắ p chai mà u và ng, bên ngoà i có nhãn ghi chữ “ Thuố c trừ cỏ hiệ u cỏ c háy USA 20SL” thể tí ch 450ml. Bên trong chai có mộ t í t dung dị ch lỏ ng cò n só t lạ i có mà u xanh tí m

(đã niêm phong nắ p chai);

- 01 bình xịt phun thuốc vỏ nhựa màu tím , loại bình 18 lít có in hình ngôi sao. Bình xịt có gắn cần phun là m bằ ng kim loạ i mà u trắ ng kích thước cao 60cm, rộng 35 cm (đã niêm phong nắ p bình phun).

Tại Kết luận định giá tài sản số: 16/KLĐGTS ngày 13/3/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã An Khê kết luận: 1.750 cây Keo bốn tháng tuổi, đường kính thân cây trung bình từ 0,3 cm - 0,5cm, độ cao trung bình từ 20 - 70cm, trị giá là: 1.400.000đ.

Ngày 28/4/2017, ông Nguyễ n B không chấ p nhậ n Kết luận định giá tài sản số: 16/KLĐGTS ngày 13/3/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã An Khê với lý do : Không tí nh giá trị đầ u tư và chăm só c như : Đầu tư phân bó n, giố ng cây, làm đất, công trồ ng cây cho ông B.

Tại Kế t luậ n đị nh giá tà i sả n số : 05/HĐĐG-KL ngà y 07/6/2017 của Hội đồ ng đị nh giá tà i sả n trong tố tụ ng hì nh sự tỉ nh Gia Lai, kế t luậ n: 1.750 cây keo 04 tháng tuổi, đườ ng kí nh trung bì nh thân cây 0,3cm đế n 0,5cm, độ cao trung bì nh cây cao nhấ t là 70cm, thấ p nhấ t là 20cm, tại thời điểm tháng 10/2016, có giá là 7.538.580đ (Bảy triệu năm trăm ba mươi tám ngàn năm trăm tám mươi đồng).

Tại Kết luận giám định số : 514/C54C (Đ4) ngày 07/8/2017 của Phân vi ện khoa họ c hì nh sự tạ i thành phố Đà Nẵ ng thuộ c Việ n khoa họ c hì nh sự Bộ Công an kế t luậ n: Mẫ u chấ t lỏ ng mà u xanh tí m chứ a trong chai nhự a hì nh chữ nhậ t, vỏ màu trắ ng, nắ p chai màu và ng , bên ngoà i có ghi chữ “Thuố c trừ cỏ hiệ u Cỏ chá y USA 20SL” gử i đi giá m đị nh có thà nh phầ n Paraquat . Paraquat là thuố c trừ cỏ nhó m Bipyridilium, thuộ c nhó m độ c I.

Về dân sự: Người bị hại ông Nguyễ n B yêu cầ u bị cáo Nguyễ n Thà nh D bồ i thườ ng số tiề n 7.538.580đ (Bảy triệu năm trăm ba mươi tám ngàn năm trăm tám mươi đồ ng).

Tại bản cáo trạng số 29/CTr-VKS ngày 22/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Khê đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành D về tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 143 của Bộ luật Hình sự.

Kiểm sát viên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Khê tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành D phạm tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 143 của BLHS; áp dụng điểm b, g, h, p khoản 1 Điều 46; Điều 31 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

XÉT THẤY:

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thành D đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có tại hồ sơ vụ án.

Vì vậy có đủ cơ sở kết luận: Chỉ vì mâu thuẫn trong tranh chấ p đấ t giữ a bị cáo Nguyễn Thành D và cha mình là ông Nguyễn B , vào khoảng 14 giờ ngày 02/02/2017 tại thôn TA3, xã SA, thị xã AK bị cáo Nguyễn Thành D đã dù ng thuố c diệ t cỏ phun và o diệ n tí ch đấ t trồ ng keo củ a cha bị cáo là ông Nguyễn B làm chết 1.750 cây keo gây thiệ t hạ i tà i sả n trị giá 7.538.580đ. Tài sản bị thiệt hại do hành vi của bị cáo gây ra không thể sửa chữa, khắc phục được. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạ m và o tộ i “Hủy hoại tài sản” theo quy đị nh tạ i khoản 1 Điề u 143 của Bộ luậ t Hì nh sự .

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác và làm ảnh hưởng đến trật tự trị an trên địa bàn. Do vậy, cần phải áp dụng cho bị cáo hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo vì trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điể m b, g, h, p khoản 1 Điều 46 BLHS cần được xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục và răn đe.

Về trách nhiệm dân sự:

Người bị hại ông Nguyễn B yêu cầu bị cáo Nguyễ n Thà nh D bồi thường số tiề n 7.538.580đ. Xét yêu cầu của người bị hại là có cơ sở và đúng pháp luật nên cần buộc bị cáo Nguyễn Thành D phải bồi thường số tiền 7.538.580đ cho người bị hại, bị cáo đã bồi thường được số tiền là 1.000.000đ nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã An Khê. Bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường số tiền 6.538.580đ.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 chai nhự a hì nh chữ nhậ t vỏ mà u trắ ng , nắ p chai mà u và ng , bên ngoài có nhãn ghi chữ “Thuốc trừ cỏ hiệu cỏ cháy USA 20SL” thể tí ch 450ml và 01 bình xịt phun thuốc vỏ nhựa màu tím , loại bình 18 lít có in hình ngôi sao, bình xịt có gắn cần phun làm bằng kim loại màu trắng kích thước cao 60cm, rộng 35 cm là phương tiện, công cụ phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST và DSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành D phạm tội “Hủy hoại tài sản”;

2. Áp dụng khoản 1 Điều 143; các điểm b, g, h, p khoản 1 Điều 46; Điều 31 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành D 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Khấu trừ 10% thu nhập hàng tháng của bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ để sung quỹ Nhà nước.

Giao bị cáo Nguyễn Thành D cho UBND xã SA, thị xã AK, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

3. Về dân sự: Áp dụng Điều 42 của Bộ luật Hình sự; Điều 589 của Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Nguyễn Thành D phải bồi thường số tiền 7.538.580đ cho người bị hại Nguyễn B, bị cáo đã bồi thường được số tiền là 1.000.000đ nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã An Khê theo biên lai thu tiền số 0006278 ngày 24/8/2017. Bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường số tiền 6.538.580đ.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người phải thi hành án không chịu thi hành khoản tiền trên, thì hàng tháng còn phải trả cho người được thi hành án tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả với mức lãi suất được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, nếu không có thỏa thuận thì mức lãi suất thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41của BLHS và Điều 76 của BLTTHS.

- Tịch thu tiêu hủy 01 chai nhự a hì nh chữ nhậ t vỏ mà u trắ ng , nắ p chai mà u vàng, bên ngoà i có nhã n ghi chữ “Thuố c trừ cỏ hiệ u cỏ chá y USA 20SL” thể tí ch 450ml và 01 bình xị t phun thuố c vỏ nhự a mà u tí m , loại bình 18 lít có in hình ngôi sao.

(Tình trạng đặc điểm các vật chứng trên theo như biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/8/2017 giữa Cơ quan CSĐT Công an thị xã An Khê và Chi cục thi hành án dân sự thị xã An Khê).

5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 99 của BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 326.929đ án phí dân sự sơ thẩm.

6. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (18/9/2017) bị cáo và người bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ