vanban.org

Bản án 27/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương Tuyên án 07/07/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Về hình phạt: Xử phạt Nguyễn Văn N 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày 26 tháng 4 năm 2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn N - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 140 Bộ luật Hình sự; Điều 231 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 234 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NINH GIANG
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2017/HSST
Ngày: 07/7/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH GIANG

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Trường Giang

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Khắc Tiệp - Phó chủ tịch LĐLĐ huyện Ninh Giang

2. Ông Phạm Huy Điệu - Bí thư chi bộ khu phố 4, thị trấn Ninh Giang.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Đức Chính - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang tham gia phiên tòa: Ông Bùi Đức Lân - Kiểm sát viên.

Ngày 07/7/2017, tại Nhà văn hóa thôn Tiền, xã Hiệp Lực, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương, Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 25/2017/HSST ngày 29/5/2017 đối với bị cáo:

NGUYỄN VĂN N - SN 1996 tại Hải Dương

ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn P, xã H, huyện G, tỉnh Hải Dương.

Nghề nghiệp: Lao động tự do

-

Trình độ văn hoá: 06/12;

Con ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị T;

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 26/4/2017, tại Trại tạm giam Kim Chi Công an tỉnh Hải Dương; có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Anh Phạm Như C - SN 1994; Trú tại: Thôn H, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn L - SN 1998; trú tại: Thôn P, xã H, huyện G, tỉnh Hải Dương (Vắng mặt).

NHẬN THẤY:

Bị cáo Nguyễn Văn N bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 13/3/2017, Nguyễn Văn N gặp anh Phạm Như C tại quán Internet 247 thuộc thôn Hà Hải, xã Hà Kỳ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương. N hỏi mượn anh C xe mô tô Airblade màu trắng - đỏ, BKS: 34B2- 145.48 để đi sang thị trấn N có việc riêng. Anh C đồng ý và bảo N đi nhanh rồi mang xe về trả cho anh C. Sau đó, N điều khiển xe mô tô mượn của anh C đến quán điện tử ở khu 1, thị trấn N chơi điện tử và bị thua hết tiền. N nảy sinh ý định cầm cố chiếc xe của anh C để lấy tiền chơi điện tử tiếp. Thực hiện ý định chiếm đoạt tài sản, N điều khiển xe mô tô của anh C đến quán cầm đồ 6789 thuộc khu vực chợ Đ, thôn Đ, xã Ư, huyện N gặp anh Nguyễn Văn L nói dối là xe của bạn nhờ bán hộ và viết giấy bán xe cho anh L với giá 10.000.000đ. Sau khi nhận tiền do anh L đưa cho, N sử dụng vào việc chơi điện tử và tiêu sài cá nhân hết số tiền 10.000.000đ rồi bỏ trốn.

Tại kết luận định giá tài sản số 08/KLĐG ngày 05/4/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ninh Giang, kết luận: Chiếc xe mô tô Airblade màu trắng - đỏ, BKS 34B2- 145.48 trị giá 24.500.000đ

Tại bản cáo trạng số 23/VKS-HS ngày 26/5/2017, VKSND huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương truy tố Nguyễn Văn N về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo điểm a khoản 1 Điều 140 BLHS.

Tại phiên toà, Nguyễn Văn N thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang giữ nguyên quyết định truy tố; đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 140, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 BLHS. Xử phạt Nguyễn Văn N từ 12 đến 15 tháng tù; về TNDS: Áp dụng Điều 42 BLHS, Điều 357 BLDS. Buộc N phải trả cho anh Nguyễn Văn L số tiền 10.000.000đ; buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

XÉT THẤY

Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, biên bản quản lý tài sản cũng như các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, HĐXX đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 13/3/2017, Nguyễn Văn N đã lợi dụng sự quen biết để mượn chiếc xe mô tô Airblade, BKS 34B2-145.48 của anh Phạm Như C. Trong quá trình quản lý chiếc xe này, N đã mang đi bán lấy tiền tiêu sài. Do không có khả năng trả nợ, nên N đã bỏ trốn. Trị giá chiếc xe mô tô bị N chiếm đoạt là 24.500.000đ.

Xét thấy, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức tài sản thuộc sở hữu người khác là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ. Xong vì mục đích tư lợi, muốn chiếm đoạt tài sản của người khác để tiêu sài nhưng lại không chịu lao động chân chính nên Nguyễn Văn N đã lợi dụng lòng tin của người khác giao tài sản cho mình. Trong quá trình quản lý, Long đã thực hiện hành vi chiếm đoạt, sau đó bỏ trốn. Vì vậy, Nguyễn Văn N phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 140 BLHS.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện VKS huyện Ninh Giang thực hành quyền công tố đã luận tội đối với bị cáo là có cơ sở, đúng pháp luật.

Đánh giá về nhân thân Nguyễn Văn N, HĐXX thấy rằng: Tại Quyết định số 1532 ngày 24/5/2012, Chủ tịch UBND huyện Gia Lộc xử phạt hành chính bằng hình thức buộc vào Trường giáo dưỡng. Tính đến thời điểm phạm tội, bị cáo được coi không có tiền sự, nhưng cần phải đánh giá bị cáo có nhân thân xấu để xem xét quyết định hình phạt cho phù hợp với hành vi phạm tội của Nguyễn Văn N.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, Nguyễn Văn N đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS. HĐXX sẽ cân nhắc, áp dụng cho bị cáo được hưởng khi lượng hình để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật.

Trong vụ án này, còn có hành vi của anh Nguyễn Văn L mua chiếc xe mô tô mô tô Airblade, BKS 34B2- 145.48. Xét thấy, quá trình giao dịch, anh L không biết tài sản do N phạm tội mà có, nên HĐXX không đặt ra xử lý.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, anh Phạm Như C đã nhận lại xe mô tô cùng các giấy tờ liên quan và không yêu cầu bồi thường, nên HĐXX không đặt ra giải quyết.

Đối với số tiền 10.000.000đ, Nguyễn Văn N có được do bán chiếc xe mô tô cho anh Nguyễn Văn L, nên buộc bị cáo phải trả lại anh L số tiền này là phù hợp quy định pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

2. Về hình phạt:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 140, Điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 BLHS

Xử phạt Nguyễn Văn N 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày 26 tháng 4 năm 2017.

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 42 BLHS, Điều 357 BLDS.

Buộc Nguyễn Văn N phải trả anh Nguyễn Văn L số tiền 10.000.000đ.

Sau khi án có hiệu lực, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành, nếu người phải thi hành án chưa thi hành khoản tiền trên thì phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh chậm trả do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS. Nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS.

4. Về án phí: Áp dụng điều 99 của BLTTHS và Nghị quyết của UBTVQH về án phí.

Buộc Nguyễn Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 500.000đ án phí dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 231, Điều 234 BLTTHS.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo nội dung có liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ