- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Bá Đ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá Đ, bị cáo Bùi Thế T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 -HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 269/2025/HS-ST Ngày: 25/12/2025 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Đỗ Phương Minh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Lương
Bà Hoàng Thị Mỹ Hạnh
- Thƣ ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 3 - Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 235/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 260/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 46/2025/QĐ-HPT ngày 10 tháng 12 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Bá Đ, sinh năm 1977 tại Hà Nội; CCCD số: 001xxx; Nơi thường trú: 65 tổ 9B, phường V, thành phố Hà Nội; Nơi ở: số 8, ngõ 36, đê T, phường V, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Bá T1 (sinh năm 1936) và bà: Lê Thị G (sinh năm 1936); Có 02 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2005; Danh chỉ bản số 2043, lập ngày 09/8/2025 tại Công an thành phố Hà Nội; Tiền sự: Không.
Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 27/HSST ngày 18/01/1996 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/8/1996, chưa nộp án phí hình sự sơ thẩm (chưa được xóa án tích); Bản án hình sự sơ thẩm số 618/HSST ngày 17/11/1997 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/12/1999, chưa nộp án phí hình sự sơ thẩm và phạt tiền 20.000.000 đồng (chưa được xóa án tích).
Nhân thân: Ngày 12/6/2010, công an phường Thanh Lương xử phạt 350.000 đồng về hành vi Gây rối trật tự công cộng; Ngày 08/11/2010, công an phường Thanh Lương xử phạt 750.000 đồng về hành vi Gây rối trật tự công cộng; Ngày 11/01/2011, công an phường Thanh Lương đưa đi cơ sở giáo dục bắt buộc 24 tháng (đều đã hết thời hiệu).
Bị cáo bị bắt quả tang: ngày 29/7/2025, tạm giữ: từ ngày 30/7/2025, tạm giam: từ ngày 08/8/2025; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội; Có mặt tại phiên tòa.
2. Bùi Thế T, sinh năm 1972 tại Hà Nội; CCCD số: 001xxx; Nơi thường trú: 42 tổ 22, phường V, thành phố Hà Nội; Chỗ ở: 7 ngõ 169 đê T, phường V, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 3/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bùi Thế Đ1 (sinh năm 1939) và bà: Chu Tuyết N (sinh năm 1941); Có vợ là Trần Thị H (sinh năm 1971) và có 01 con, sinh năm 2002; Danh chỉ bản số 2022, lập ngày 09/8/2025 tại Công an thành phố Hà Nội; Tiền sự: Không;
Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 321/2022/HSST ngày 28/12/2022 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt 22 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (phạm tội ngày 19/10/2022), thời hạn tù tính từ ngày 19/10/2022; Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2023/HSST ngày 30/3/2023 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (phạm tội ngày 19/10/2022), tổng hợp hình phạt 22 tháng tù của bản án hình sự sơ thẩm số 321/2022/HSST ngày 28/12/2022 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 32 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/10/2022, chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/3/2025 (đều chưa được xóa án tích).
Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 454/2013/HSST ngày 22/8/2013 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 07 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/12/2013 (đã xóa án tích); Ngày 09/3/2004, công an phường Bạch Đằng xử phạt Cảnh cáo về hành vi Trộm cắp tài sản (đã hết thời hiệu); Ngày 13/5/2005, công an quận Hai Bà Trưng xử phạt 200.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy (đã hết thời hiệu); Ngày 08/9/2005, công an quận Hai Bà Trưng xử phạt 200.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy (đã hết thời hiệu); Ngày 17/7/2007, công an phường Lê Đại Hành xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản (đã hết thời hiệu).
Bị cáo bị bắt quả tang: ngày 29/7/2025, tạm giữ: từ ngày 30/7/2025, tạm giam: từ ngày 08/8/2025; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội; Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần ma túy để sử dụng nên khoảng 16 giờ 00 phút ngày 29/7/2025, Bùi Thế T đi đến nhà Nguyễn Bá Đ ở số 65 tổ 9, phường V, thành phố Hà Nội. Tại đây, T nhờ Đ mua hộ ma túy và hứa cho Đ cùng sử dụng một nửa số ma túy mua được nên Đ đồng ý nên T đã đưa cho Đ số tiền 200.000 đồng. Đ nhận tiền và điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Click màu đen, biển kiểm soát 30F2-8588 sau xe chở T cùng đi đến khu vực phố Tây Kết, phường Hồng Hà, thành phố Hà Nội thì Đ dừng xe để T ngồi chờ còn Đ đi bộ một mình vào khu vực ngã ba Tây Kết - Bạch Đằng gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng rồi cất gói ma túy vừa mua được ở túi quần phía sau bên trái đang mặc rồi đi ra chỗ T đang đợi chở T cùng đi về nhà Đ để sử dụng ma túy. Khoảng 16 giờ 20 phút cùng ngày, khi Đ và T đi đến trước số 49 Trần Khát Chân, phường Vĩnh Tuy, thành phố Hà Nội thì bị tổ công tác của công an phường Vĩnh Tuy, thành phố Hà Nội đang làm nhiệm vụ kiểm tra, thì Đ đã lấy từ túi quần sau bên trái của Đ đang mặc 01 gói nhỏ bọc nilông màu vàng ra giao nộp và khai nhận đây là gói heroin Đ và T vừa mua về để sử dụng nên tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng là ma túy và đưa các đối tượng về trụ sở để điều tra, làm rõ.
Vật chứng của vụ án đã thu giữ của Nguyễn Bá Đ gồm: 01 gói nhỏ bên ngoài bọc bằng nilông màu vàng, kích thước khoảng (1x2)cm, bên trong chứa chất bột màu trắng; 01 chiếc điện thoại kiểu dáng Oppo, màu đen, Imei1: 860163041690715, Imei2: 860163041690707, số sim: 0833185136 (đã qua sử dụng); 01 chiếc xe máy kiểu dáng Honda Click, màu đen, BKS: 30F2-8588, số máy: 18E-0031222, số khung: RLHJF1804YY331138 (đã qua sử dụng).
Kết quả xét nghiệm nước tiểu Nguyễn Bá Đ và Bùi Thế T đều dương tính với chất ma túy.
Tại Kết luận giám định số 4598/KL-KTHS ngày 07/8/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội, kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói nilông màu vàng là ma túy loại Heroin, khối lượng 0,140gam.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Bá Đ và Bùi Thế T khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Ngày 29/7/2025 cơ quan công an đã tiến hành dẫn giải Nguyễn Bá Đ đi xác định địa điểm mua ma túy tại khu vực ngã ba Tây Kết - Bạch Đằng, phường Hồng Hà, thành phố Hà Nội, nhưng không xác định được người đàn ông đã bán ma túy cho Đ. Ngoài lời khai của Đ, hiện không có tài liệu, chứng cứ nào khác để xác định người đàn ông đã bán ma túy cho Đ nên cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra làm rõ.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Bá Đ và Bùi Thế T, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại nơi cư trú xác định Đ và T không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 256a Bộ luật hình sự nên cơ quan điều tra không xử lý.
Đối với chiếc điện thoại di động kiểu dáng Oppo, màu đen, Imei1: 860163041690715, Imei2: 860163041690707, số sim: 0833185136 (đã qua sử dụng) thu giữ của Nguyễn Bá Đ, quá trình điều tra xác định là tài sản cá nhân của Đ, không liên quan đến hành vi phạm tội.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Click, màu đen, biển kiểm soát: 30F2-8588 thu giữ của Nguyễn Bá Đ. Đ khai là xe mua cũ, đã làm mất giấy tờ mua bán xe. Ngày 07/8/2025 cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định số khung, số máy đối với chiếc xe máy trên. Tại Kết luận giám định số 6472/KL-KTHS ngày 29/9/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu Honda Click đeo BKS: 30F2-8588 có số khung: RLHJF18047Y331138 và số máy: JF18E-0031222 là số nguyên thủy. Qua xác minh thông tin dữ liệu đăng ký xe, chủ xe theo số khung, số máy là chị Phạm Thanh H (HKTT: số 5, ngõ 34 phố M, phường O, thành phố Hà Nội) và chủ xe theo biển số 30F2-8588 là chị Trần Phương M (sinh năm 1976; HKTT: 113 H, phường H, thành phố Hà Nội). Tại cơ quan điều tra, chị H khai chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Click có số khung, số máy trên do chị mua và đăng ký đứng tên chị, khoảng tháng 6/2018 chị để xe tại số 125 phố Trung Kính, phường Yên Hòa, thành phố Hà Nội và bị mất trộm, chị không trình báo ở đâu. Đối với chị Trần Phương M, hiện chị M đã chuyển vào làm việc ở thành phố Hồ Chí Minh, qua xác minh qua điện thoại, chị M trình bày biển số 30F2-8588 của chị đã bị mất từ lâu, chị M không trình báo và không có yêu cầu đề nghị gì đối với biển số xe trên. Ngày 24/10/2025 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội đã ra quyết định tách tài liệu liên quan đến chiếc xe máy trên để tiếp tục xác minh làm rõ.
Tại Bản cáo trạng số 23/CT-VKS ngày 07 tháng 11 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hà Nội truy tố Nguyễn Bá Đ về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự và Bùi Thế T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
* Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Bá Đ và Bùi Thế T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình và đều thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hà Nội truy tố đối với các bị cáo là đúng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hà Nội luận tội: tại phiên tòa các bị cáo khai nhận phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố và các tài liệu khác, có đủ cơ sở kết luận cáo trạng truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản đã viện dẫn là có căn cứ nên giữ nguyên nội dung truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Bá Đ với mức hình phạt từ 5 năm tù đến 5 năm 6 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Thế T với mức hình phạt từ 3 năm 6 tháng tù đến 4 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 bao niêm phong bên trong chứa ma túy Heroine đã thu giữ của bị cáo; trả lại cho bị cáo Đ 01 chiếc điện thoại kiểu dáng Oppo, màu đen.
* Lời nói sau cùng của các bị cáo: Bị cáo Đ và bị cáo T đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để sớm trở về với gia đình và hòa nhập xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về đánh giá chứng cứ trong vụ án:
Xét lời khai của các bị cáo Nguyễn Bá Đ và Bùi Thế T tại phiên tòa thống nhất với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với nhau, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 29/7/2025, Bùi Thế T gặp Nguyễn Bá Đ và đưa 200.000 đồng nhờ Đ mua ma túy để cùng sử dụng. Đ điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Click màu đen, biển kiểm soát 30F2-8588 chở T ngồi sau đi đến khu vực phố Tây Kết, phường Hồng Hà, thành phố Hà Nội thì Đ dừng xe để T ngồi chờ còn Đ đi bộ một mình vào khu vực ngã ba Tây Kết - Bạch Đằng, phường Hồng Hà, thành phố Hà Nội gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói nhỏ bên ngoài bọc nilông màu vàng, bên trong chứa 0,140 gam ma túy loại Heroine. Đ cất giấu ma túy ở túi quần đang mặc rồi cùng T đi tìm nơi để sử dụng. Khoảng 16 giờ 20 phút cùng ngày, khi Đ và T đi đến trước số 49 Trần Khát Chân, phường Vĩnh Tuy, thành phố Hà Nội thì bị tổ công tác của công an phường Vĩnh Tuy, thành phố Hà Nội bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Bị cáo Nguyễn Bá Đ và Bùi Thế T là người trưởng thành, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy và hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng. Hành vi đó không những đã vi phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, mà còn gây ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người, là nguyên nhân dẫn đến những hành vi vi phạm pháp luật khác, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình trật tự trị an xã hội ở địa phương. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Bá Đ và Bùi Thế T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.
Đối với bị cáo Nguyễn Bá Đ: nhân thân của bị cáo đã 02 lần bị kết án:
Bản án hình sự sơ thẩm số 27/HSST ngày 18/01/1996 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/8/1996, chưa nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Bản án hình sự sơ thẩm số 618/HSST ngày 17/11/1997 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, đã xác định bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/12/1999, chưa nộp án phí hình sự sơ thẩm và phạt tiền.
Như vậy, bản án số 618/HSST ngày 17/11/1997 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xác định bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm. Theo quy định tại khoản 2 Điều 73 của Bộ luật hình sự thì 2 tiền án của bị cáo nêu trên đều chưa được xóa án tích. Theo quy định tại Điều 53, Điều 70 của Bộ luật hình sự bị cáo đã tái phạm, chưa được xóa án tích lại phạm tội nên lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, là tình tiết tăng nặng định khung quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Bá Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Ngoài ra, trong các năm 2010, 2011 bị cáo Nguyễn Bá Đ bị xử lý hành chính về các hành vi Gây rối trật tự công cộng, đi cơ sở giáo dục bắt buộc 24 tháng (đều đã hết thời hiệu).
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Bá Đ không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Bá Đ thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo Bùi Thế T: nhân thân của bị cáo đã 03 lần bị kết án:
Bản án hình sự sơ thẩm số 454/2013/HSST ngày 22/8/2013 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 07 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/12/2013, đã nộp án phí hình sự sơ thẩm, đã được xóa án tích.
Bản án hình sự sơ thẩm số 321/2022/HSST ngày 28/12/2022 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt 22 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (phạm tội ngày 19/10/2022), thời hạn tù tính từ ngày 19/10/2022, đã nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2023/HSST ngày 30/3/2023 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (phạm tội ngày 19/10/2022), tổng hợp hình phạt 22 tháng tù của bản án hình sự sơ thẩm số 321/2022/HSST ngày 28/12/2022 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 32 tháng tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/3/2025, đã nộp án phí hình sự sơ thẩm và khoản truy nộp sung công quỹ nhà nước 800.000 đồng.
Như vậy, bị cáo chưa được xóa án tích đối với bản án hình sự sơ thẩm số 321/2022/HSST ngày 28/12/2022 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội và bản án hình sự sơ thẩm số 41/2023/HSST ngày 30/3/2023 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Do vậy, bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hà Nội truy tố bị cáo Bùi Thế T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Ngoài ra, trong các năm 2004, 2005, 2007 bị cáo Bùi Thế T bị xử phạt hành chính về các hành vi Trộm cắp tài sản, Sử dụng trái phép chất ma túy (đều đã hết thời hiệu).
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Bùi Thế T thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét vai trò của các bị cáo trong việc thực hiện tội phạm: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Đ và bị cáo T có tính chất đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo T là người đưa 200.000 đồng để bị cáo Đ đi tìm mua ma túy sử dụng chung, bị cáo Đ là người trực tiếp đi mua ma túy và cất giấu ma túy trên người. Do đó, Hội đồng xét xử đánh giá hai bị cáo có vai trò ngang nhau trong việc thực hiện hành vi phạm tội.
Về quyết định hình phạt: Xét hành vi phạm tội, tính chất tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục riêng đối với các bị cáo và đảm bảo công tác đấu tranh phòng ngừa chung. Khi cá thể hóa hình phạt, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 58 Bộ luật hình sự để xem xét, cân nhắc quyết định mức hình phạt phù hợp đối với mỗi bị cáo.
Các bị cáo Nguyễn Bá Đ và Bùi Thế T bị lập biên bản phạm tội quả tang hành vi phạm tội lúc 16 giờ 20 phút ngày 29/7/2025 và bị tạm giữ để điều tra nên tính thời gian tạm giữ từ ngày 29/7/2025 để đảm bảo quyền lợi cho các bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo Nguyễn Bá Đ và Bùi Thế T không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 phong bì còn nguyên vẹn niêm phong được dán kín, tại các mép dán có chữ ký của giám định viên Trần Ngọc C, cán bộ công an phường Vĩnh Tuy - Lê Thọ T, bị cáo Nguyễn Bá Đ, Bùi Thế T (theo Biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định lập ngày 29/7/2025 tại Phòng PC09 Công an thành phố Hà Nội; Bản kết luận giám định số 4598/KL-KTHS ngày 07/8/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội). Xét thấy, ma túy là chất cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 chiếc điện thoại kiểu dáng Oppo, màu đen, Imei1: 860163041690715, Imei2: 860163041690707, số sim: 0833185136 thu giữ của Nguyễn Bá Đ, là tài sản cá nhân của bị cáo Đ, không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, nên trả lại cho bị cáo Đ.
Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Click, màu đen, biển kiểm soát: 30F2-8588, số khung: RLHJF18047Y331138, số máy: JF18E-0031222 thu giữ của Nguyễn Bá Đ, ngày 24/10/2025 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội đã ra quyết định tách tài liệu liên quan đến chiếc xe máy trên để tiếp tục xác minh làm rõ, nên Tòa án không xem xét.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Nguyễn Bá Đ, quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội không xác định được danh tính nên không có căn cứ để xử lý là đúng.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá Đ, bị cáo Bùi Thế T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; xử phạt bị cáo Nguyễn Bá Đ 5 (năm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/7/2025.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; xử phạt bị cáo Bùi Thế T 3 (ba) năm 6 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/7/2025.
3. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo Nguyễn Bá Đ, Bùi Thế T.
4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì còn nguyên vẹn niêm phong được dán kín, tại các mép dán có chữ ký của giám định viên Trần Ngọc C, cán bộ công an phường Vĩnh Tuy - Lê Thọ T, bị cáo Nguyễn Bá Đ, Bùi Thế T (theo Biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định lập ngày 29/7/2025 tại Phòng PC09 Công an thành phố Hà Nội; Bản kết luận giám định số 4598/KL-KTHS ngày 07/8/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội).
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Bá Đ: 01 chiếc điện thoại kiểu dáng Oppo, màu đen, Imei1: 860163041690715, Imei2: 860163041690707, số sim: 0833185136 (tại thời điểm bàn giao sim không còn hoạt động và điện thoại cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng và tình trạng hoạt động).
(Toàn bộ vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3 - Hà Nội theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 2026/KV3-108 ngày 02/12/2025 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3 - Hà Nội).
5. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Nguyễn Bá Đ và bị cáo Bùi Thế T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Bị cáo Nguyễn Bá Đ và bị cáo Bùi Thế T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND, VKSND thành phố Hà Nội; - VKSND Khu vực 3 - Hà Nội; - Cơ quan CSĐT Công an thành phố Hà Nội; - Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội; - Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3 - Hà Nội; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Phƣơng Minh |