- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Trịnh Thị H được ly hôn với ông Trần Hữu T.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 269/2025/HNGĐ-ST Ngày: 30/7/2025 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Phương Nam
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm
2. Bà Nguyễn Thị Kim Liên
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Nguyệt Nga – Thư ký tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quang Tuấn – Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh (cơ sở 1) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý 297/2025/TLST-HNGĐ ngày 18/3/2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST–HNGĐ ngày 04/7/2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị H; Sinh năm 1986; CCCD số xxxxxxxxxxxx
Địa chỉ: Thôn Y, xã T, tỉnh Thanh Hóa (Địa chỉ cũ: Thôn Y, xã V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa).
2. Bị đơn: Ông Trần Hữu T; Sinh năm 1985; CCCD số xxxxxxxxxxxx
Địa chỉ: C Ấp D, xã Đ, Thành phố Hồ Chí Minh (Địa chỉ cũ: 361/60/380D Ấp F, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn bà Trịnh Thị H trình bày:
Bà Trịnh Thị H và ông Trần Hữu T tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2011, và đăng ký kết hôn ngày 26/11/2012 tại Ủy ban nhân dân Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian đầu kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Sau đó, giữa ông T và bà H phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Hai vợ chồng thường xuyên xảy ra tranh cãi. Dù vợ chồng đã hòa giải, hàn gắn nhiều lần nhưng không có kết quả. Hai vợ chồng sống ly thân từ tháng 05/2020 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, vợ chồng không có qua lại, mạnh ai nấy sống. Nay bà H nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm yêu thương, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được và mỗi người đều có cuộc sống riêng nên bà H yêu cầu ly hôn với ông Trần Hữu T.
Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Mỹ Thanh T1 (sinh ngày 16/02/2013) và Trần Mỹ Thanh N (sinh ngày 07/12/2018). Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con vì từ năm 2020 cho đến nay hai cháu đều do bà H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Theo bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa, bị đơn ông Trần Hữu T trình bày:
Ông T và bà Trịnh Thị H tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2011 và có đăng ký kết hôn ngày 26/11/2012 tại Ủy ban nhân dân Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc tại gia đình nhà chồng. Sau đó, đến khoảng đầu năm 2019, giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân của sự mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, ông T không có việc làm, dẫn đến kinh thế gia đình khó khăn, vợ chồng xảy ra tranh cãi, vợ cùng hai con về nhà ngoại ở. Hai vợ chồng đã cố gắng hàn gắn hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả và đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Hiện nay, ông T đồng ý ly hôn với bà H.
Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Mỹ Thanh T1, (sinh ngày 16/02/2013) và Trần Mỹ Thanh N (sinh ngày 07/12/2018). Ông T đồng ý cho bà H được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung và không có ý kiến, yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Đại diện Viện kiểm sát nhân Khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tuân thủ đúng pháp luật tố tụng dân sự về thụ lý vụ án, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ, hòa giải, tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử áp dụng, tuân thủ đúng trình tự thủ tục tố tụng.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Thị H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là tranh chấp ly hôn và bị đơn cư trú tại xã Đ, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh theo qui định tại khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025 (sau đây gọi tắt là Bộ luật tố tụng dân sự).
Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trịnh Thị H và ông Trần Hữu T chung sống với nhau có đăng ký kết hôn. Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 104-2012, Quyển số 01-2012 do Ủy ban nhân dân Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh đăng ký ngày 26/11/2012 thì đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông T là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu ly hôn của bà Trịnh Thị H: Theo như lời khai của bà H, ông T thì đủ cơ sở xác định trong thời gian chung sống giữa bà H, ông T có phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, mặc dù bà H và ông T đã cố gắng hàn gắn, hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả và đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Hiện nay, bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn và ông T cũng đồng ý. Từ đó, Hội đồng xét xử nhận định đời sống chung vợ chồng của bà H và ông T đang ở trong tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên không thể kéo dài. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình để chấp nhận cho bà H được ly hôn với ông T.
Về con chung: Bà H và ông T có 02 con chung tên Trần Mỹ Thanh T1 (sinh ngày 16/02/2013) và Trần Mỹ Thanh N (sinh ngày 07/12/2018). Căn cứ quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, trên cơ sở xem xét quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên cũng như nguyện vọng của cháu Thanh T1, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Thanh T1 và Thanh N cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, ông T cũng không có ý kiến, yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn cấp dưỡng nuôi con của ông T cho đến khi có yêu cầu.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà H và ông T đều khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Án phí ly hôn là 300.000 đồng, bà H chịu, nộp tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025;
Căn cứ Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 116 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014);
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; Danh mục án phí, lệ phí tòa án được ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Trịnh Thị H được ly hôn với ông Trần Hữu T.
2. Về con chung: Bà H và ông T có hai con chung tên Trần Mỹ Thanh T1 (sinh ngày 16/02/2013) và Trần Mỹ Thanh N (sinh ngày 07/12/2018). Giao hai con chung cho bà Trịnh Thị H trực tiếp nuôi dưỡng.
Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của ông Trần Hữu T cho đến khi có yêu cầu.
Khi cần thiết, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí sơ thẩm: Bà H phải nộp án phí ly hôn là 300.000đồng, và được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000đồng mà bà H đã nộp theo biên lai số 0083074 ngày 18/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà H đã nộp đủ án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận : - Các đương sự; - VKSND TP.HCM; - VKSND KV 8 – TP.HCM; - Phòng THADS KV 8 – TP.HCM; - UBND P.Xóm Chiếu, TP.HCM; - UBND P.Khánh Hội, TP.HCM; - Lưu: hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đỗ Thị Phƣơng Nam |