- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Hồng Oanh M và ông Trần Hữu Th.
- Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 269/2023/HNGĐ-ST Ngày 11 - 12 - 2023 “V/v tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Th Hoàng Đắc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trương Công Minh
Ông Trương Ánh Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thúy Kiều – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.
Ngày 11 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 613/2023/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 317/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Hồng Oanh M, sinh năm: 1983; Địa chỉ cư trú: đường Nguyễn Thị Nho, khóm 5, Phường 1, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Bị đơn: Ông Trần Hữu Th, sinh năm: 1982; Địa chỉ cư trú: đường Nguyễn Thị Nho, khóm 5, Phường 1, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Bà Hồng Oanh M trình bày tại đơn khởi kiện và được bổ sung tại phiên tòa như sau:
Về hôn nhân: Năm 2009, bà M và ông Trần Hữu Th tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An Xuyên, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, không hợp nhau. Ông Th có hành vi hành hung, đánh đập bà M. Bà M xác định không còn tình cảm và yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Th.
Về nuôi con chung: Ông Th và bà M có 02 người con chung là Trần Thịnh Ph, sinh ngày 17/3/2010 và Trần Hồng Minh A, sinh ngày 15/6/2015, đang sống với gia đình. Khi ly hôn, bà yêu cầu nuôi cháu Phát và đồng ý giao cháu Minh A cho ông Th nuôi, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Trần Hữu Th đầy đủ, đúng theo quy định pháp luật nhưng bị đơn vẫn vắng mặt và không có văn bản thể hiện ý kiến, cũng không có đơn phản tố gửi cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Trần Hữu Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên tòa xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về hôn nhân: Năm 2009 bà Hồng Oanh M và ông Trần Hữu Th tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân giữa anh chị được pháp luật công nhận là hợp pháp và được bảo vệ.
[3] Xét nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng theo bà M trình bày: Do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cữ cãi, không hợp nhau. Ông Th có hành vi hành hung, đánh đập bà M. Bà M xác định không còn tình cảm và yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Th. Về phía ông Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và trực tiếp ký nhận các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vẫn vắng mặt và không có văn bản thể hiện ý kiến của mình gửi cho Tòa án. Cho thấy ông Th không có thiện chí đoàn tụ với bà M. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà M và ông Th không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Hồng Oanh M được ly hôn với ông Trần Hữu Th.
[3] Về con chung: Ông Th và bà M có 02 người con chung là Trần Thịnh Ph, sinh ngày 17/3/2010 và Trần Hồng Minh A, sinh ngày 15/6/2015, đang sống với gia đình. Khi ly hôn, bà M yêu cầu nuôi cháu Phát và đồng ý giao cháu Minh Anh cho ông Th nuôi. Lý do cháu Minh Anh sống bên nội từ nhỏ và bà không cũng có điều kiện để nuôi cả hai con. Xét thấy, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của hai con nên Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Phát cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng theo nguyện vọng của cháu và giao cháu Minh Anh cho ông Th trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Ông Th và bà M không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con, theo quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình thì cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Tuy nhiên, bà M không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, ông Th cũng không có ý kiến về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Bà M không yêu cầu giải quyết.
[6] Về án phí: Bà M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 143, 147, 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Hồng Oanh M và ông Trần Hữu Th.
2. Về con chung:
2.1 Giao con chung Trần Thịnh Ph, sinh ngày 17/3/2010 cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng.
2.2 Giao con chung Trần Hồng Minh A, sinh ngày 15/6/2015 cho ông Th trực tiếp nuôi dưỡng.
Ông Th và bà M không đặt ra cấp dưỡng nuôi con; đồng thời ông bà có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Bà M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ngày 23/10/2023, bà M đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0008522 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau được đối trừ.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy đinh tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - Phòng KT-NV và THA TAND tỉnh Cà Mau (Gửi email); - VKSND thành phố Cà Mau; - Chi cục THADS thành phố Cà Mau; - UBND xã An Xuyên, thành phố Cà Mau; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Hoàng Đắc |