- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "H-T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” của bà Nguyễn Thị Thu H đối với ông Đỗ Hữu T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 268/2026/HNGĐ-ST Ngày: 15/05/2026 V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Kim Nhung
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Bình
Ông Đoàn Văn Đức
- Thư ký phiên tòa: Ông Lã Phú Huy - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 05 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 06/2026/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2026 về: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 04 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 92/2026/QĐST-DS ngày 28 tháng 04 năm 2026 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm: 2000; CCCD số: xxxxxxxxxxxx. Nơi cư trú: Tổ A, phường S, thành phố Đà Nẵng. Có mặt
Bị đơn: Ông Đỗ Hữu T, sinh năm: 1997; CCCD số: xxxxxxxxxxxx. Nơi cư trú: Số F đường N, phường S, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu H và ông Đỗ Hữu T kết hôn với nhau năm 2018, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng (nay là phường S, thành phố Đà Nẵng) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 171 ngày 30/10/2018. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc ai. Sau khi kết hôn và chung sống đến năm 2023 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn tới mâu thuẫn là: do bất đồng quan điểm, vợ chồng không hòa hợp và thường xuyên cãi vã, quan hệ ngày càng bất hòa, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Mặc dù cả hai vợ chồng đều đã cho nhau cơ hội để hàn gắn, hòa giải nhưng vẫn không có kết quả. Từ năm 2023 đến nay vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau, bà đã dọn về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Nay bà Nguyễn Thị Thu H xác định không còn tình cảm yêu thương ông Đỗ Hữu T nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Đỗ Hữu T.
- Về quan hệ con chung: Bà Nguyễn Thị Thu H xác định bà và ông Đỗ Hữu T có 01 con chung là: Đỗ Hảo H1, sinh ngày 08/4/2018. Ly hôn bà H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Thu H xác định không có tài sản chung.
- Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Thu H xác định không có nợ chung.
* Bị đơn ông Đỗ Hữu T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông Đỗ Hữu T vắng mặt không lý do, không có ý kiến.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Đà Nẵng phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Theo đó, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và nguyên đơn, đã tuân thủ đúng pháp luật, thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Đà Nẵng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” của bà Nguyễn Thị Thu H với ông Đỗ Hữu T:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu H được ly hôn với ông Đỗ Hữu T.
- Về con chung: Giao con chung là Đỗ Hảo H1, sinh ngày 08/4/2018 cho bà Nguyễn Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Ông Đỗ Hữu T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Thu H xác định không có tài sản chung nên không xem xét, giải quyết.
- Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Thu H xác định không có nợ chung nên không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
[1] Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp ly hôn giữa ông Đỗ Hữu T và bà Nguyễn Thị Thu H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Bị đơn ông Đỗ Hữu T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên nên Hội đồng xét xử vắng bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Bà Nguyễn Thị Thu H và ông Đỗ Hữu T kết hôn năm 2018. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng (nay là phường S, thành phố Đà Nẵng). Đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà H khai rằng sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng ông bà thường xuyên cãi vã, không còn tiếng nói chung, không thể hòa hợp, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Mặc dù đã nhiều lần cả hai cho nhau cơ hội để hàn gắn tuy nhiên đều không có kết quả. Từ năm 2023 đến nay vợ chồng đã sống ly thân không còn quan tâm đến nhau. Bà H nhận thấy mâu thuẫn của vợ chồng đã rất trầm trọng nên xin được ly hôn với ông Đỗ Hữu T.
Xét yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Thu H thì thấy: Hạnh phúc gia đình chỉ thật sự hạnh phúc khi có sự chung thủy, yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau. Việc bị đơn ông Đỗ Hữu T không đến tham gia hòa giải, không tham gia phiên tòa cho thấy ông không còn muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, đời sống chung giữa hai người đã không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được.
Xét thấy, mâu thuẫn của vợ chồng đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn và mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định cho bà H được ly hôn ông T là hoàn toàn phù hợp với Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Giao con chung là Đỗ Hảo H1, sinh ngày 08/4/2018 cho bà Nguyễn Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Ông Đỗ Hữu T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Thu H xác định không có tài sản chung nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Thu H xác định không có nợ chung nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
Ông Đỗ Hữu T vắng mặt tại phiên tòa và không có ý kiến trình bày. Do vậy, HĐXX không xem xét giải quyết. Nếu sau này tranh chấp về tài sản chung và nợ chung thì giải quyết bằng một vụ án khác.
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng bà H phải chịu theo quy định của pháp luật.
Các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về nội dung vụ án tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 165, Điều 217, Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 33, Điều 51, Điều 56, Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” của bà Nguyễn Thị Thu H đối với ông Đỗ Hữu T.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu H được ly hôn với ông Đỗ Hữu T. Do chấp nhận yêu cầu về việc ly hôn của bà Nguyễn Thị Thu H đối với ông T nên Giấy chứng nhận kết hôn số 171 do Ủy ban nhân dân phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng (nay là phường S, thành phố Đà Nẵng) cấp ngày 30/10/2018 không còn giá trị pháp lý theo quy định của pháp luật.
2. Về con chung: Giao con chung là Đỗ Hảo H1, sinh ngày 08/4/2018 cho bà Nguyễn Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Ông Đỗ Hữu T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Các bên đương sự có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Thu H xác định không có tài sản chung nên không xem xét, giải quyết.
4. Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Thu H xác định không có nợ chung nên không xem xét, giải quyết.
Ông Đỗ Hữu T vắng mặt tại phiên tòa và không có ý kiến trình bày. Do vậy, HĐXX không xem xét giải quyết. Nếu sau này tranh chấp về tài sản chung và nợ chung thì giải quyết bằng một vụ án khác.
5. Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng bà H phải chịu theo quy định của pháp luật nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại biên lai thu số 0000092 ngày 06/01/2026 tại Cơ quan thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết. Nơi nhận :
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND Khu vực 2;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Phòng THADS khu vực 2;
- Cục THADS TP. Đà Nẵng.
- UBND P.Sơn Trà, TP Đà Nẵng
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Dương Thị Kim Nhung
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
CÁC THÀNH VIÊN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận : - VKSND Khu vực 2; - Phòng THADS khu vực 2; - Cục THADS TP. Đà Nẵng. - UBND phường Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Kim N |