- Tranh chấp gì? án hình sự — "268 31-12 Nguyễn Thanh S 251 - không phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh S2 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/5/2024.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 268 /2024/HS-ST Ngày 31 - 12 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phúc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Khoái.
2. Bà Nguyễn Thị Kim Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Sơn Tùng – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phan Xuân Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 369/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 492/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh S năm 1982, tại Thành phố H cư trú (nơi đăng ký thường trú: A B, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Không có nơi cư trú ổn định); nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 4/12dân tộc: Kinh; giới tính: Namtôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị T (đã chết); vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không;
Tiền án: Ngày 09/3/2021, Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 44/2021/HS-ST. Ngày 01/8/2023, chấp hành xong toàn bộ bản án.
Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/5/2024 đến nay. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị S1; địa chỉ: Ấp G, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 19 giờ, ngày 28/5/2024, tổ tuần tra Công an P, Quận H tuần tra đến trước nhà số I đường A A, Phường A, Quận H phát hiện Nguyễn Thanh S2 ngồi trên xe mô tô hiệu Wave, biển số 64B1-708.05 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện trên mặt đường gần chỗ S2 đứng có một gói nylon chứa tinh thể dán trên tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng bằng băng keo màu xanh, S2 khai nhận là ma túy của S2 dùng để bán cho T1 (quen biết ngoài xã hội, không rõ họ tên, địa chỉ, số điện thoại) có tài khoản zalo tên L. Sau đó, Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q để điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thanh S2 nhưng không phát hiện thu giữ gì.
Ngày 29/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q ra Quyết định trưng cầu giám định số 2339 đối với 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Thanh S2 và hình dấu Công an P, Quận H, bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể dán trên tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng bằng băng keo màu xanh ký hiệu (m). Ngày 06/6/2024 Phòng K có Kết luận giám định số 6577/KL-KTHS, xác định: tinh thể được ký hiệu (m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5598g, loại Methamphetamine.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Nguyễn Thanh S2 khai nhận:
Vào khoảng 17 giờ, ngày 28/5/2024, S2 đang ở nhà thì T1 (quen biết ngoài xã hội, không rõ họ tên, địa chỉ, số điện thoại) có gọi điện thoại bằng tài khoản Zalo tên L cho S2 kêu lấy “hàng” giúp (S2 tự hiểu là mua ma túy đá bán lại cho T1). Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, S2 điều khiển xe Wave màu đỏ, biển số 64B1-708.05 từ nhà tại địa chỉ A B, Phường A, Quận H đến ngã ba C, Phường A, Quận H để tìm mua ma túy. Do trước đây S2 đã vài lần đến đây để tìm mua ma túy về sử dụng nên khi vừa đến khu vực ngã ba C thì S2 gặp một người phụ nữ (không rõ lai lịch) đứng ngoài đường, người này hỏi S2 “lấy bao nhiêu?”, S2 nói “lấy 250.000 đồng” rồi đưa tiền mặt cho người này và người này quăng một túi nylon chứa tinh thể (ma túy đá), được dán trên tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng bằng băng keo màu xanh xuống đất. S2 nhặt gói ma túy lên cầm trên tay rồi chạy đến gần trước khách sạn H (địa chỉ: 1 đường A A, Phường A, Quận H) để bán lại cho T1. Khi đến trước khách sạn, S2 quăng gói ma túy xuống mặt đất phía trước và gọi điện thoại qua Z nói T1 đến nhận nhưng ngay lúc này bị Công an P, Quận H tiến hành kiểm tra và bắt quả tang như đã nêu trên.
- Đối với 01 túi nylon chứa tinh thể được dán trên tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng bằng băng keo màu xanh là ma túy do S2 mua với giá 250.000 đồng để giao lại cho T1 như đã khai trên. Do trước đó 03 ngày, T1 có cho S2 mượn 1.000.000 đồng nên S2 mua ma túy giúp cho T1 thì sẽ trừ vào tiền nợ. S2 mua ma túy giúp cho T1 và T1 hứa cho S2 100.000 đồng để tiêu xài và chơi điện tử.
Vật chứng của vụ án:
- 01 (một) gói niêm phong có chữ ký của giám định viên Huỳnh Văn T2, chữ ký của cán bộ điều tra Nguyễn Huy L1, chữ ký Nguyễn Thanh S2 và hình dấu Công an P, Quận H (Bên trong chứa tinh thể có khối lượng 0,5094g và tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng);
- 01 (một) điện thoại di động OPPO A31, IMEI 1: 860646041155432, IMEI 2: 860646041155434 gắn sim 0768.638.779, 0896.473.065;
- 01 (một) xe Wave gắn biển số 64B1-708.05 thu giữ của Nguyễn Thanh S2.
Tại bản Cáo trạng số 310/CT-VKS-Q8 ngày 19/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Thanh Sang về tội “Mua bán trái phép chất ma túytheo khoản 1 Điều 251Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thanh S2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 04 năm tù; phạt bổ sung bị cáo số tiền 5.000.000 đồng. Về xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong chứa ma túy, tịch thu sung quỹ nhà nước tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng, tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động OPPO A31 gắn sim 0768.638.779, 0896.473.065, tiếp tục đăng báo để truy tìm chủ xe mô tô biển số 64B1-708.05 trong thời hạn 01 năm, hết thời hạn trên không có người nhận hợp pháp thì tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận; bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định: Vào lúc 19 giờ, ngày 28/5/2024, tại trước nhà số I đường A A, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Nguyễn Thanh S2 có hành vi cất giữ trái phép 0,5598g (không phẩy năm năm chín tám gam) ma túy, loại Methamphetamine, với mục đích để bán cho người nghiện thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy và an toàn xã hội. Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh S3 phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xét tính nghiêm trọng của tội phạm mà bị cáo đã thực hiện, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa phạm tội mới; đồng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trong xã hội.
Năm 2021, bị cáo bị Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “tái phạm”, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là có cơ sở, đúng người, đúng tội. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nên có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung, xét hành vi phạm tội của bị cáo là nhằm thu lợi bất chính nên Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) gói niêm phong có chữ ký của giám định viên Huỳnh Văn T2, chữ ký của cán bộ điều tra Nguyễn Huy L1, chữ ký Nguyễn Thanh S2 và hình dấu Công an P, Quận H chứa ma túy, xét đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) điện thoại di động OPPO A31, IMEI 1: 860646041155432, IMEI 2: 860646041155434 gắn sim 0768.638.779, 0896.473.065, thu giữ của Nguyễn Thanh S2. Đây là điện thoại S2 dùng liên lạc để mua bán ma túy nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên tịch thu sung quỹ nhà nước.
- 01 (một) xe Wave gắn biển số 64B1-708.05. S2 khai nhận mượn xe trên của bà S1 gần nhà (S2 không biết tên thật, không nhớ địa chỉ nhà) để đi công việc. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh tại Đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an Q được biết chủ sở xe nêu trên là bà Nguyễn Thị S1, địa chỉ: Ấp G, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long đứng tên sở hữu. Ngày 25/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q ra Quyết định ủy thác cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Vĩnh Long tiến hành ghi lời khai chị S1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã đăng tin tìm chủ sở hữu nhưng đến nay chưa có có kết quả nên cần tục đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng để tìm chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp 01 xe mô tô biển số 64B1-708.05 trong thời hạn 01 năm, hết thời hạn trên không có người nhận hợp pháp thì tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với người tên T1 và người phụ nữ đã bán ma túy cho bị cáo, do không xác định được lai lịch, Cơ quan điều tra không đủ cơ sở xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh S2 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/5/2024.
Phạt bị cáo Nguyễn Thanh S2 số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong có chữ ký của giám định viên Huỳnh Văn T2, chữ ký của cán bộ điều tra Nguyễn Huy L1, chữ ký Nguyễn Thanh S2 và hình dấu Công an P, Quận H (Bên trong chứa tinh thể có khối lượng 0,5094g và tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng).
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động OPPO A31, IMEI 1: 860646041155432, IMEI 2: 860646041155434 gắn sim 0768.638.779, 0896.473.065.
Tiếp tục đăng báo để truy tìm chủ xe mô tô biển số 64B1-708.05 trong thời hạn 01 năm, hết thời hạn trên không có người nhận hợp pháp thì tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
(Tất cả theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 30/12/2024).
- Căn cứ vào các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Nguyễn Thanh S2 nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - PC.53 CA TP.HCM; - Sở Tư pháp TP.HCM; - VKSND Q.8, TP.HCM; - Chi cục THADS Q.8; - CQĐT CAQ.8, TP.HCM; - CQTHAHS Q.8, TP.HCM; - NTG CAQ.8, TP.HCM; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phúc |