vanban.org

Bản án 268/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 13/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;

VKSND TP Hạ Long; CQĐT Công an TP Hạ Long, CQTHAHS Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Văn T - Tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 268/2022/HS-ST
Ngày 13 -12 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Cúc Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thu Thúy 2. Bà Bùi Kim Dung

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Lý - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Liên - Kiểm sát viên. Ngày 13 tháng 12 năm 2022 tại Phòng xử án Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 216/2022/TLST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 257/2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo: Ngô Văn T, tên gọi khác: không; sinh ngày 10 tháng 8 năm 1970 tại Quảng Ninh; nơi thường trú: tổ E, khu E, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn K và Nguyễn Thị M; có vợ là Hoàng Bích T1; có 03 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2003; tiền án: Ngày 29/4/2009, Tòa án nhân dân thành phố H xử phạt 38 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 17/02/2012, chấp hành xong hình phạt tù, trở về địa phương. Ngày 17/4/2014, chấp hành xong phần án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm, đã bồi thường cho anh Tạ Thanh B 3.500.000đ; chưa bồi thường cho anh Bùi Ngọc P 5.562.500đ, chị Phan Thị X 5.600.000đ, chưa được xóa án tích; tiền sự: không; nhân thân:

- Tại bản án số 192 ngày 11/11/1993, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh và bản án số 496 ngày 15/4/1994 của Tòa án nhân dân tối cao đã xử phạt Ngô Văn T 07 năm tù, về tội “Cướp giật tài sản”. Ngày 19/12/1999, chấp hành xong hình phạt tù, trở về địa phương. Ngày 18/5/2011, T chấp hành xong phần án phí, nộp sung công, chưa bồi thường dân sự cho bị hại nhưng bị hại không yêu cầu T bồi thường thiệt hại.

- Bản án số: 286 ngày 22/8/2005, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 12 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, giá trị tài sản chiếm đoạt dưới 2.000.000đ, không phải bồi thường thiệt hại.

- Ngày 18/11/2005, Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xử phạt 15 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” cộng với 12 tháng tù của bản án số: 286 ngày 22/8/2005 củaTòa án nhân dân thành phố H. Tổng hợp hình phạt của 02 bản án là 27 tháng tù. Ngày 22/10/2007, chấp hành xong hình phạt tù, trở về địa phương. Ngày 18/05/2011, T đã nộp xong 50.000đ án phí hình sự sơ thẩm, không phải bồi thường thiệt hại.

- Ngày 01/02/2013, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 36

tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 25/8/2015, chấp hành xong hình phạt tù, trở về địa phương. Ngày 23/9/2013, chấp hành xong phần án phí hình sự sơ thẩm, không phải bồi thường dân sự.

- Ngày 05/05/2017, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 30 tháng

tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 17/7/2019, chấp hành xong hình phạt tù, trở về địa phương. Ngày 08/8/2018, chấp hành xong phần án phí hình sự, dân sự sơ thẩm, chưa bồi thường thiệt hại về tài sản nhưng bị hại anh Nguyễn Văn C không yêu cầu T phải bồi thường thiệt hại về tài sản số tiền 11.893.000đ.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/6/2022, hiện đang bị tạm giam tại

Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Hoàng Bích T1, sinh năm 1968; nơi thường trú: tổ E, khu F, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng: Anh Đinh Khắc M1, sinh năm 1983; nơi thường trú:

thôn Y, xã L, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 09 giờ ngày 28/6/2022, tại đoạn đường thuộc tổ E, khu E, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Công an phường C phát hiện, bắt quả tang Ngô Văn T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ tại tay trái của T 01 gói giấy, bên trong chứa chất bột màu trắng; thu của T 01 xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ đen, biển kiểm soát 14H4-3230. Tại Kết luận giám định số 1088/KL-KTHS ngày 05/7/2022 của Phòng K1 Công an tỉnh Q, kết luận: chất bột màu trắng có trong 01 gói giấy thu giữ của Ngô Văn T là ma túy, loại Heroine, khối lượng là 0,177gam (không phảy một bảy bảy gam). Tại Kết luận giám định số 1266/KL-KTHS ngày 06/8/2022 của Phòng K1 Công an tỉnh Q, kết luận: xe mô tô biển kiểm soát 14H4-3230, dán mác Sirius, màu sơn đỏ đen, lốc máy có chữ Yamaha, số khung hiện tại RLCS5C6309Y258355, số máy hiện tại 5C63-258360 là số khung, số máy nguyên thủy. Tại Cáo trạng số: 221/CT-VKSHL ngày 20/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long đã truy tố bị cáo Ngô Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Qua quá trình xét hỏi, bị cáo thừa nhận chưa bồi thường, bị hại tại bản án số 146/2009/HSST ngày 29/4/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long là anh Bùi Ngọc P, chị Phan Thị X vẫn yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại. Do đó, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long bổ sung quan điểm truy tố đối với bị cáo tại bản luận tội. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết tăng nặng “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Đề nghị xử phạt bị cáo Ngô Văn T từ 18 tháng đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/6/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; Về vật chứng vụ án: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,12 gam Heroine mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì còn nguyên niêm phong số 1088/KL-KTHS ngày 05/7/2022 của Phòng K1 Công an tỉnh Q. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển kiểm soát 14H4-3230. Quá trình khai báo tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp như trong quá trình điều tra, Cáo trạng truy tố và việc bị đưa ra xét xử là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, việc khai báo tự nguyện không bị ép buộc. Bị cáo không tranh luận với luận tội của Đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển kiểm soát 14H4-3230, bị cáo sử dụng làm phương tiện đi lại hàng ngày. Nguồn gốc chiếc xe, bị cáo mua của một người đàn ông không nhớ tên tuổi từ tháng 4/2022, có giấy tờ mua bán viết tay, tiền mua xe một phần do mẹ đẻ cho và một phần tiền do bị cáo lao động hợp pháp mà có. Bị cáo đề nghị xin lại chiếc xe để cho vợ làm phương tiện đi lại. Người có quyền lời nghĩa vụ liên quan đến vụ án - Chị Hoàng Bích T1 có lời khai: Chị và bị cáo là vợ chồng hợp pháp nhưng đã sống ly thân với nhau từ năm 2020 đến nay, mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm đến ai. Ngày 28/6/2022, bị cáo tàng trữ ma túy bị bắt, bị thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển kiểm soát 14H4-3230. Bị cáo vi phạm pháp luật chị không biết, nguồn gốc chiếc xe trên là của bị cáo, chị không đóng góp tiền mua chiếc xe này. Chị không có yêu cầu gì đối với chiếc xe này, tại phiên tòa bị cáo đề nghị trả lại xe nếu Hội đồng xét xử trả lại cho chị thì chị cũng đồng ý nhận. Người làm chứng - anh Đinh Khắc M1 có lời khai: xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển kiểm soát 14H4-3230 anh mua năm 2009, đăng ký mang tên Đinh Khắc M1. Đến khoảng tháng 4/2022, anh bán chiếc xe này cho bị cáo với giá 8.000.000đ, khi mua bán có giấy tờ mua bán viết tay, anh đã đưa đăng ký xe cho bị cáo. Đến nay giữa anh và bị cáo không có tranh chấp gì liên quan đến chiếc xe trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, bảo đảm các quyền, nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: lời khai nhận hành vi phạm

tội của bị cáo Ngô Văn T thể hiện, bản thân T sử dụng ma túy từ năm 2002, sau khi chấp hành án trở về địa phương từ năm 2019, T tiếp tục sử dụng ma túy. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 8 giờ 30 phút ngày 28/6/2022, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 14H4-3230 đến khu vực gầm cầu B thuộc phường Y, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh gặp và mua của một người thanh niên không quen biết 01 gói ma túy, loại Heroine, khối lượng là 0,177gam (không phảy một bảy bảy gam) với giá 400.000đ. Sau khi mua được ma túy, T cầm gói ma túy tìm nơi sử dụng thì bị Công an kiểm tra, bắt giữ.

Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ

liên quan - chị Hoàng Bích T1 về nguồn gốc chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 14H4-3230; phù hợp với lời khai của người chứng kiến - anh Đào Duy Hiển và anh Hoàng Minh T2 có chứng kiến việc Công an kiểm tra, bắt quả tang T tàng trữ trái phép chất ma túy; phù hợp với lời khai của người làm chứng - anh Đinh Khắc M1 là người đã bán chiếc xe mô tô biển kiểm soát 14H4-3230 cho bị cáo; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an phường C, thành phố H lập vào hồi 09 giờ 15 phút ngày 28/6/2022 thể hiện việc bắt quả tang Ngô Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,177 gam ma túy, loại Heroine; phù hợp với Kết luận giám định số 1088/KL-KTHS ngày 05/7/2022 của Phòng K1 Công an tỉnh Q và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Hành vi của bị cáo Ngô Văn T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma

túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. [3] Về tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo: hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới sự độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, ma túy là hiểm họa và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với xã hội cũng như đối với sức khỏe, nhưng đã bất chấp sự ngăn cấm của pháp luật, cất giữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích thỏa mãn việc sử dụng ma túy của bản thân, thể hiện sự coi thường pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo đã nhiều lần bị Tòa án xét xử về loại tội xâm phạm tài sản, có một bản án chưa được xóa án tích, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng giáo dục bản thân, mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và phòng ngừa chung. [4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: đối với các bản án số 192/HSST ngày 11/11/1993 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh và số 75/HSST ngày 05/5/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, bị cáo chưa bồi thường thiệt hại cho bị hại nhưng những bị hại này đều không yêu cầu bị cáo bồi thường nên các bản án này đã được xóa án tích. Đối với bản án số 146/2009/HSST ngày 29/4/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt bị cáo 38 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 17/02/2012, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, trở về địa phương. Ngày 17/4/2014, bị cáo đã thi hành xong phần án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng tại bản án này tuyên bị cáo phải liên đới với bị cáo Hà Minh T3 bồi thường cho bị hại (mỗi bị cáo phải bồi thường ½ số tiền) chia theo phần thì bị cáo phải bồi thường cho anh Bùi Ngọc P 5.562.500đ; anh Tạ Thanh B 3.500.000đ (bị cáo đã bồi thường cho anh B số tiền 3.500.000đ); chị Phan Thị X 5.600.000đ. Qua xác minh thi hành án thì các bị hại chưa có đơn yêu cầu nên Chi cục Thi hành án thành phố Hạ Long chưa thụ lý thi hành các khoản trên. Ngày 14/9/2022, Công an thành phố H lấy lời khai của anh P, chị X thì được biết đến nay bị cáo chưa bồi thường cho anh, chị; bị cáo cũng thừa nhận chưa bồi thường cho bị hại. Anh P, chị X vẫn yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho anh, chị số tiền trên. Căn cứ theo Điều 70 Bộ luật Hình sự thì bản án số 146/2009/HSST ngày 29/4/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt bị cáo chưa được xóa án tích. Do vậy, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm, được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo,

ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ông Ngô Văn K là bố đẻ của bị cáo được nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp

dụng. [7] Về vật chứng vụ án: 0,12 gam Heroine mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì còn nguyên niêm phong số 1088/KL-KTHS ngày 05/7/2022 của Phòng K1 Công an tỉnh Q đây là vật cấm lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy. Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 14H4-3230, dán mác Sirius, màu sơn đỏ đen, lốc máy có chữ Yamaha, số khung hiện tại RLCS5C6309Y258355, số máy hiện tại 5C63-258360; 01 đăng ký mô tô, xe máy mang tên Đinh Khắc M1: quá trình điều tra xác minh là tài sản của bị cáo mua lại của chủ sở hữu là anh Đinh Khắc M1, chưa làm thủ tục sang tên. Tuy chiếc xe trên mua trong thời kỳ hôn nhân của bị cáo với chị T1 nhưng cả hai đều xác nhận hiện đã sống ly thân nhau từ năm 2020 đến nay, mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm đến nhau, chị T1 không biết về nguồn gốc chiếc xe cũng như không đóng góp tiền mua chiếc xe trên. Bị cáo sử dụng chiếc xe này đi mua ma túy để sử dụng, là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước. [8] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. [9] Đối với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long tại phiên tòa đề nghị áp dụng điều luật, mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của Tòa án. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố: Ngô Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Ngô Văn T 21 (hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 28/6/2022. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,12 gam Heroine mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì còn nguyên niêm phong số 1088/KL-KTHS ngày 05/7/2022 của Phòng K1 Công an tỉnh Q. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen đỏ, biển kiểm soát 14H4-3230, số khung RLCS5C6309Y258355, số máy 5C63-258360, đã qua sử dụng; 01 đăng ký mô tô, xe máy mang tên Đinh Khắc M1 (đăng ký này hiện đang lưu tại hồ sơ vụ án). (tình trạng vật chứng trên như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 51/BB-THA ngày 29/11/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long). Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Ngô Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ