- Tranh chấp gì? án hình sự — "TTMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| Toµ ¸n nh©n d©n QUẬN LONG BIÊN thµnh phè Hµ Néi | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| __________________ B¶n ¸n sè: 268/2021/HSST Ngµy: 09/12/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán: Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trâm Anh Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Văn Bình
Ông Phạm Văn Minh
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Hồng Hà – Thư ký Toà án nhân dân Quận Long Biên. Đại diện VKSND quận Long Biên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hằng – Kiểm sát viên
Ngày 09 th¸ng 12 n¨m 2021, t¹i trô së Tòa án nhân dân quận Long Biên, thµnh phè Hµ Néi, Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 277/2021/TLST-HS ngµy 23 th¸ng 11 n¨m 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 296/2021/QĐXXST-HS ngày 29/11/2021 đối với bị cáo: Họ và tên: Trần Đức L – SN: 1976; HKTT: Tổ C phường L, Quận Long Biên, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không Văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên bố: Trần Văn Đ – SN: 1940; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị B (đã chết); Gia đình có 04 chị em, bị can là con thứ hai; Vợ: Hứa Thị Khánh D - SN: 1972 (đã ly hôn); Có 01 con sinh năm 2002; TATS: Không: Nhân thân: Bản án số 112 ngày 20/05/1997, Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù giam về tội Tổ chức dùng chất ma túy (đã xóa án tích); Bản án số 112 ngày 12/ 06/2002 bị Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm xử phạt 36 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, hạn tù tính từ ngày 10/01/2002. Bản án hình sự sơ thẩm số 242/2006/HSST ngày 09/06/2006 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 07 năm tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn tính từ ngày 27/02/2006. Bản án hình sự phúc thẩm số 1088/2006/HSPT ngày 19/10/2006 của Tòa phúc thẩm tại Hà Nội – Tòa án nhân dân tối cao xử phạt 05 năm tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn tính từ ngày 27/02/2006. Ra trại ngày 27/03/2010; Ngày 06/04/1996 bị công an huyện Gia Lâm bắt xử phạt hành chính về hành vi Gây rối trật tự công cộng; Năm 2010 đi cai nghiện bắt buộc 24 tháng về địa phương năm 2012; Năm 2013 đi cai nghiện bắt buộc 24 tháng về địa phương năm 2015.
Bị bắt giữ ngày 30/6/2021, tạm giam từ ngày 06/7/2021 đến nay tại Trại tạm giam số 02 công an thành phố Hà Nội.( Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tai phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11h20 phút ngày 30/6/2021, tổ công tác Công an phường Long Biên, quận Long Biên, Hà Nội tiến hành kiểm tra hành chính tại nhà riêng của Trần Đức L ở số nhà 20 phố Trạm, phường Long Biên, quận Long Biên, Hà Nội. Qua kiểm tra, tổ công tác phát hiện trong túi quần bên phải phía trước L đang mặc có 02 túi nilon màu trắng trong đó 1 túi chứa 10 gói nhỏ, một túi chứa 13 gói nhỏ. Mở ra bên trong tất cả gói giấy đều chứa chất bột màu trắng. Tại chỗ, L khai nhận là ma túy Heroine vừa mua về mục đích sử dụng cho bản thân. Tổ công tác lập biên bản thu giữ tang vật và đưa L về trụ sở giải quyết.
Tang vật thu giữ: 02 túi niL màu trắng gồm 01 túi niL bên trong có chứa 10 gói giấy màu trắng, 01 túi niL bên trong có chứa 13 gói giấy màu trắng đều chứa chất bột màu trắng trong túi quần bên phải của L .
Tại bản kêt luận giám định số 5479 ngày 08/07/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự-CATP Hà Nội: chất bột màu trắng bên trong 23 gói giấy màu trắng. Bên trong các gói giấy màu trắng có chứa chất bột màu trắng là ma túy Heroine có tổng khối lượng 0,680 gam.
Tại cơ quan điều tra, Trần Đức L khai nhận:
Khoảng 09 giờ 00’ ngày 30 tháng 6 năm 2021, L đi xe buýt một mình từ nhà đến khu vực nghĩa trang Đình Bảng- Từ Sơn- Bắc Ninh với mục đích tìm mua ma túy heroine để sử dụng cho bản thân. Khi đến nghĩa trang Đình Bảng, L xuống xe đi bộ thì gặp một phụ nữ không quen biết đứng ở ven đường. L đã hỏi và mua của người phụ nữ này 23 gói ma túy heroine hết 600.000 đông, số ma túy này được đựng trong 02 túi niL màu trắng. Sau khi mua được ma túy, L cho vào trong túi quần bên phải của L rồi đi về nhà để tìm nơi sử dụng. Khi L về đến nhà thì bị tổ công tác Công an phường Long Biên kiểm tra bắt quả tang thu giữ trong túi quần bên phải của L 02 túi nilon, túi thứ nhất chứa 10 gói ma túy heroine và túi thứ hai chứa 13 gói ma túy heroine. Tổng số là 23 gói bên ngoài đều được gói bằng giấy màu trắng. Sau đó tổ công tác tiến hành tạm giữ niêm phong tang vật vào trong phong bì và đưa về trụ sở làm rõ.
Lời khai của Trần Đức L hoàn toàn phù hợp với các tài liệu đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Đối với người phụ nữ bán ma túy cho L ngày 30/ 6/ 2021 tại nghĩa trang Đình Bảng-Từ Sơn- Bắc Ninh, do L khai không biết tên tuổi địa chỉ ngoài ra không còn tài liệu nào khác. Do vậy Cơ quan điều tra không đủ căn cứ làm rõ xử lý trong vụ án.
Tại bản cáo trạng số 276/CT-VKS-LB ngày 22/11/2021 của Viện Kiểm Sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội Truy tố bị cáo Trần Đức L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa: Bị cáo Trần Đức L đã khai nhận tội như đã khai tại cơ quan điều tra, Bị cáo thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện. Bị cáo nhận thức hành vi phạm tội của mình và xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử :
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Đức L từ 24 tháng đến 30 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người không có thu nhập ổn định nên thấy cần miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
+ Về xử lý vật chứng: 0,680 gam Heroine là vật cấm lưu hành thấy cần tịch thu tiêu hủy;
Bị cáo Trần Đức L không có tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2017; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Trần Đức L không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng , người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Đức L tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với vật chứng đã thu giữ, phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận:
Hồi 11h20’ ngày 30 tháng 06 năm 2021, tại nhà số 20 phố Trạm, phường Long Biên, Long Biên, Hà Nội, Trần Đức L có hành vi tàng trữ trái phép 0,680 gam ma túy Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị công an phường Long Biên phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.
Bị cáo Trần Đức L có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp; Hành vi của bị cáo Trần Đức L đã xâm phạm trật tự quản lý hành chính của cơ quan quản lý nhà nước về chất gây nghiện; Hành vi của bị cáo Trần Đức L đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
. Viện kiểm sát truy tố bị cáo Trần Đức L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, và đúng quy định của pháp luật.
. Ma túy là hiểm hoạ lớn cho xã hội, là nguyên nhân gây ra các tội phạm khác, mặc dù biết rõ tác hại của ma túy nhưng bị cáo vẫn cố ý tàng trữ trái phép chất ma tuý với mục đích sử dụng cho bản thân. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm khắc bằng pháp luật hình sự.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Đức L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa hôm nay và tại cơ quan điều tra bị cáo khai báo thành khẩn, thực sự ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
. Về nhân thân: Bị cáo Trần Đức L có 03 tiền án, 03 tiền sự: Bản án số 112 ngày 20/05/1997, Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù giam về tội Tổ chức dùng chất ma túy; Bản án số 112 ngày 12/ 06/2002 bị Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm xử phạt 36 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, hạn tù tính từ ngày 10/01/2002. Bản án hình sự sơ thẩm số 242/2006/HSST ngày 09/06/2006 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 07 năm tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn tính từ ngày 27/02/2006. Bản án hình sự phúc thẩm số 1088/2006/HSPT ngày 19/10/2006 của Tòa phúc thẩm tại Hà Nội – Tòa án nhân dân tối cao xử phạt 05 năm tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn tính từ ngày 27/02/2006. Ra trại ngày 27/03/2010; Ngày 06/04/1996 bị công an huyện Gia Lâm bắt xử phạt hành chính về hành vi Gây rối trật tự công cộng; Năm 2010 đi cai nghiện bắt buộc 24 tháng về địa phương năm 2012; Năm 2013 đi cai nghiện bắt buộc 24 tháng về địa phương năm 2015. Mặc dù các tiền án tiền sự của bị cáo L đều đã xóa nhưng thể hiện bị cáo có nhân thân rất xấu.
. Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục và cải tạo đối với bị cáo.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người không có thu nhập ổn định nên thấy cần miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng:
+ 0,680 gam ma túy Heroine là vật cấm lưu hành thấy cần tịch thu tiêu hủy
VÒ ¸n phÝ: C¨n cø §iÒu 99 Bé luËt tè tông h×nh sù; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ; Kho¶n 1 Môc I Danh môc møc ¸n phÝ lÖ phÝ Toµ ¸n: BÞ c¸o ph¶i chÞu 200.000 đồng ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm.
Bi ̣ cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
V× c¸c lÏ trªn,
QUYÕT ®Þnh:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xö phạt: Bị cáo Trần Đức L 30 ( ba mươi) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 30/6/2021.
Về hinh pha ̣t bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
̀
Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ vào Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ; Kho¶n 1 Môc I Danh môc møc ¸n phÝ lÖ phÝ Toµ ¸n.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 0,680 gam Heroine ( Phòng PC09m thu mẫu 0,020 gam Heroin)
( Vật chứng hiện đang lưu giữ tại kho tang vật công an quận Long Biên theo Phiếu nhập vật chứng ngày 06/7/2021)
Về án phí: Bị cáo Trần Đức L phải chịu 200.000 (Hai trăm nghin) đồng tiền án
̀ phi hinh sự sơ thẩm
́ ̀
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận - TANDTP.Hà Nội; - VKSNDTP.Hà Nội; - Sở Tư pháp TP.Hà Nội; - VKSND quận Long Biên; - Công an quận Long Biên; - Chi cục THA. DS quận Long Biên; - Cơ quan THA.HS quận Long Biên; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ; - Lưu VP/TA. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán Nguyễn Thị Trâm Anh |