vanban.org

Bản án 268/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Nam Định, tỉnh Nam Định Tuyên án 01/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Cao Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Cao Văn H 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo được tính từ ngày 25-6-2019. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy trong phong bì niêm phong số 647/GĐKTHS và phong bì niêm phong số 3662/C09(TT2). Trả lại cho bị cáo số tiền 100.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động nhã… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Cao Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ N
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 268/2019/HS-ST
Ngày: 01-10-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Nguyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Kim Chung.

Ông Triệu Văn Giản.

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Thủy- Kiểm sát viên.

Ngày 01-10- 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 272/2019/TLST-HS ngày 11-9-2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 272/2019/QĐXXST-HS ngày 18-9-2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Cao Văn H, sinh năm 1987 tại tỉnh Thái Bình; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Xuân Đ và bà Đinh Thị L; có vợ là Hoàng Thị Tố U và 02 con con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 25-6-2019 sau đó chuyển tạm giam đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định; bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người làm chứng: Anh Đặng Tuấn Đ và chị Lê Thanh T (Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 25-6-2019, Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực ngã tư đường V - Quốc lộ 10, phường T, thành phố N phát hiện Cao Văn H đang đứng một mình có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra đã thu giữ trong túi quần bên phải của H 01 gói giấy màu trắng, mở kiểm tra bên trong có 01 túi ni lông màu trắng kích thước khoảng 5 x 7 cm, bên trong có chứa chất bột dạng tinh thể màu trắng (H khai là túi ma túy Ketamine) và 01 túi ni lông màu trắng kích thước khoảng 5 x 7 cm bên trong có 10 viên nén hình trong màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu chữ Vl in lồng vào nhau (H khai đó là 10 viên ma túy tổng hợp). Tổ công tác đã tiến hành niêm phong vật chứng mời người làm chứng và đưa H về trụ sở Công an lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang theo quy định của pháp luật. Ngoài ra còn tạm giữ của H 100.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen đã cũ.

Bản kết luận giám định số 647/GĐKTHS ngày 27-6-2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận:

- Mẫu bột dạng tinh thể màu trắng trong 01 túi ni lông giấy màu trắng kích thước 5 x 7 cm thu giữ của Cao Văn H được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại ma túy Ketamine, khối lượng mẫu: 2,498 gam.

- Mẫu gồm 10 viên nén hình tròn màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đầu có ký hiệu hĩnh chữ VL lồng vào nhau trong túi ni lông màu trắng có kích thước khoảng 5 x 7 cm, được niêm phong gửi giám định có tổng khối lượng mẫu 3,966 gam, phòng PC 09 Công an tỉnh Nam Định không đủ khả năng giám định. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trưng cầu giám định bổ sung tại Viện khoa học hình sự Bộ Công an. Bản kết luận giám định số 3662/C09-TT2 ngày 01-8-2018 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: Không tìm thấy chất ma túy trong mẫu các viên nén màu hồng gửi giám định.

Tại Cơ quan điều tra: Cao Văn H đã khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích để sử dụng và khai nguồn gốc số ma túy trên như sau: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 25-6-2019, H đi Taxi từ nhà đến khu vực Cầu Đ, đường Quốc lộ 10, thành phố N. Tới nơi H xuống xe đi bộ đến khu vực ngã tư đường V - Quốc lộ 10 hỏi mua của một người đàn ông (Không rõ lai lịch, địa chỉ) 3.500.000 đồng ma túy Ketamine và 3.500.000 đồng ma túy tổng hợp dạng thuốc lắc. Người đàn ông đồng ý nhận 7.000.000 đồng của H rồi đi đâu không rõ, một lúc sau quay lại đưa cho H 01 gói giấy màu trắng bên trong có 01 gói Ketamine và 10 viên ma túy tổng hợp thuốc lắc, rồi bỏ đi. H cất gói ma túy vừa mua vào trong túi quần bên phải rồi đứng đón xe để đi về thì bị phát hiện, bắt giữ.

Bản Cáo trạng số 273/CT-VKSTPNĐ ngày 10-9-2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố Cao Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo Cao Văn H xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố không bị Cơ quan tiến hành tố tụng ép cung, bức cung hay nhục hình. Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã nêu là đúng và khai nhận biết rõ hành vi cất giữ trái phép ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng do nghiện ma túy nên đã tàng trữ ma túy với mục đích để sử dụng cho bản thân. Bị cáo không khai báo thêm tình tiết mới và ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N luận tội và tranh luận: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Cao Văn H theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Cao Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng Điểm g Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Phạt bị cáo Cao Văn H từ 21 tháng đến 27 tù. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ số ma tuý đã thu giữ của bị cáo. Trả lại cho bị cáo số tiền 100.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen đã cũ nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: Lời khai nhận tội của bị cáo Cao Văn H có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có sự mâu thuẫn và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản thu giữ vật chứng; bản kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định; lời khai của những người làm chứng nên đã có đủ cơ sở kết luận khoảng 15 giờ 30 ngày 25-6-2019, tại khu vực ngã tư đường V - Quốc lộ 10, phường T, thành phố N bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 2,498 gam Ketamine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây mất trật tự an ninh xã hội trên địa bàn thành phố N, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Việc truy tố và đưa ra xét xử bị cáo theo Điểm g Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.

Các tình tiết Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi Quyết định hình phạt đối với bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Cao Văn H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên đối với hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn cao hơn mức đề xuất của Viện kiểm sát mới phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và góp phần phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng ...”. Xét thấy bị cáo tàng trữ ma túy với mục đích để sử dụng nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: 01 gói ma túy trong phong bì niêm phong số 647/GĐKTHS và 01 phong bì niêm phong số 3662/C09(TT2) là vật Nhà nước cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy. Số tiền 100.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen đã cũ là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đang tiến hành xác minh nên tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào Điểm g Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên bố bị cáo Cao Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Cao Văn H 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo được tính từ ngày 25-6-2019.

2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy trong phong bì niêm phong số 647/GĐKTHS và phong bì niêm phong số 3662/C09(TT2). Trả lại cho bị cáo số tiền 100.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen đã cũ nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 05-9-2019 giữa Công an thành phố N và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N).

3. Án phí: Bị cáo Cao Văn H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Cao Văn H được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành hoặc cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ