vanban.org

Bản án 268/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về h n nhân: C ng nhận sự thuận tình l h n giữa anh Ngu n Văn P và chị Ngu n Thị H.

Về việc nuôi con chung: C ng nhận sự thỏa thuận của các đương sự: Giao cho chị Ngu n Thị H trực tiếp chăm sóc, nu i dưỡng ba con chung là Ngu n Thị Lan A1, sinh ngày 28/12/2004; Ngu n Thị Ngọc A2, sinh ngày 15/9/2008 và Ngu n Thị Ánh T, sinh ngà 13/4/2017 cho đến khi các con thành niên và có khả năn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Nguyễn Văn P xin ly hôn chị Nguyễn Thị H"
  • Tòa quyết gì? Về h n nhân: C ng nhận sự thuận tình l h n giữa anh Ngu n Văn P và chị Ngu n Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HẢI HẬU
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 268/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 02 - 10 - 2019
V/v ly hôn giữa anh P và chị H

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Trung Kiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Việt Hùng;

Ông Bùi Văn Bình.

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngu n Văn Sinh – Thẩm tra viên Toà án nhân dân hu ện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân huy n H i H u tham gia phiên tòa:

ng Lại Minh h i – i m sát viên.

Ngày 02 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân hu ện Hải Hậu xét xử sơ thẩm c ng khai vụ án thụ lý số: 76/2019/TLST-HNGĐ ngà 25 tháng 3 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con và chia tài sản, nợ khi ly hôn” theo Qu ết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 9 năm 2019, giữa:

- Nguyên đơn: Anh Ngu n Văn P, sinh năm 1980; địa chỉ: Xã HĐ, hu ện H, tỉnh Nam Định. Có mặt.

- Bị đơn: Chị Ngu n Thị H, sinh năm 1983; đăng ký thường trú: Xã HĐ, hu ện H, tỉnh Nam Định; chỗ ở hiện na : Xã HS, hu ện H, tỉnh Nam Định. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Đỗ Thị Đ, sinh năm 1961; địa chỉ: xã HĐ, hu ện H, tỉnh Nam Định. Có mặt.

2. Chị Ngu n Thị Th, sinh năm 1976; địa chỉ: xã HĐ, hu ện H, tỉnh Nam Định. Có mặt.

3. ng Ngu n Văn T1, sinh năm 1960; địa chỉ: xã HĐ, hu ện H, tỉnh Nam Định. Có mặt.

4. Ông Trần Quang H1, sinh năm 1960; địa chỉ: xã HP, hu ện H, tỉnh Nam Định. Vắng mặt.

5. Bà Ngu n Thị V, sinh năm 1953; địa chỉ: xã HS, hu ện H, tỉnh Nam Định. Có mặt.

6. Anh Ngu n Văn T2, sinh năm 1979; địa chỉ: Xã HS, hu ện H, tỉnh Nam Định. Có mặt.

7. Chị Ngu n Thị M1, sinh năm 1985; địa chỉ: xã HS, hu ện H, tỉnh Nam Định. Có mặt.

8. ng Ngu n Văn C, sinh năm 1972; địa chỉ: xã HĐ, hu ện H, tỉnh Nam Định. Vắng mặt.

9. Bà Ninh Thị M2, sinh năm 1958; địa chỉ: xã HĐ, hu ện H, tỉnh Nam Định. Có mặt.

10. Bà Ngu n Thị H2; địa chỉ: Xã HĐ, hu ện H, tỉnh Nam Định. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 20/3/2019 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn anh Nguyễn Văn P trình bày:

Anh kết h n với chị Ngu n Thị H trên cơ sở tự ngu ện, đăng ký kết h n ngày 18/7/2003 tại Ủ ban nhân dân xã HĐ, hu ện H, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn vợ chồng ở chung nhà với bố mẹ chồng tại xã Hải Đường, sau đó bố mẹ cho đất xâ nhà ra ở riêng. Đến đầu năm 2016 vợ chồng xả ra mâu thuẫn do tính nết, quan đi m sống không hòa hợp. Vợ chồng sống l thân từ cuối năm 2017 cho đến nay, gia đình cũng đã khu ên giải nhưng vợ chồng kh ng hàn gắn được tình cảm. Na xét thấ tình cảm kh ng còn nên anh xin l h n với chị H.

Về con chung: Vợ chồng có ba con chung là Ngu n Thị Lan A1, sinh ngày 28/12/2004; Ngu n Thị Ngọc A2, sinh ngà 15/9/2008 và Ngu n Thị Ánh T, sinh ngà 13/4/2017. Hiện tại các con đang ở cùng chị H bên ngoại. Ngu ện vọng của anh nhận nu i hai con lớn nhưng các con đều muốn ở với mẹ thì anh cũng đồng ý, nếu chị H êu cầu anh cấp dưỡng thì anh cũng nhất trí.

Về tài sản chung: Trước đâ vợ chồng có nhà đất, t tải và các tài sản khác nhưng đã bán nhà trả nợ cho Quỹ tín dụng nhân dân xã Hải Anh, hu ện Hải Hậu và các tài sản khác đã bán kh ng còn gì nên anh kh ng êu cầu chia.

Về nợ: Vợ chồng còn nợ ng Ngu n Văn T1 13.000.000 đồng, nợ ng Ngu n Văn C 1.648.000 đồng, nợ bà Đoàn Thị Đ 2.200.000 đồng, nợ mẹ đẻ anh là bà Ngu n Thị H2 50.000.000 đồng và nợ chị Phạm Thị H2 (địa chỉ: Xóm 9, xã HT) là bạn của anh 60.000.000 đồng, va đ làm ăn. Các khoản nợ khác do chị Ngu n Thị H đã kê khai thì anh kh ng nhất trí. Anh êu cầu chia đ i nợ chung khi ly hôn.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 20/6/2019 và lời khai trong quá trình tố tụng, bị đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

Chị nhất trí với anh P về thời gian kết h n, quá trình chung sống và thời gian vợ chồng l thân. Về mâu thuẫn vợ chồng, theo chị H trình bày từ khoảng tháng 10/2017 sau khi mua xe t tải đ làm ăn, anh P bỏ nhà đi kh ng nói cho chị biết, đến Tết ngu ên đán năm 2018 anh P dẫn theo bạn gái về nhà c ng khai có quan hệ ngoại tình, mọi người trong gia đình và hàng xóm đều biết nhưng chị chưa êu cầu chính qu ền địa phương can thiệp giải qu ết. Anh P bỏ đi kh ng quan tâm đến vợ con, đã nhiều lần bảo chị ký đơn l h n nhưng chị kh ng ký nhưng đến nay chị xác định kh ng còn tình cảm vợ chồng nên anh P xin l h n chị cũng nhất trí.

Về con chung, chị H trình bày thống nhất với anh P. Chị đề nghị giải qu ết việc nu i con chung theo ngu ện vọng của các con, do các con đều muốn ở với mẹ nên chị nhận nu i cả ba con, kh ng êu cầu anh P phải cấp dưỡng nu i con, chị được bố mẹ đẻ hỗ trợ chăm sóc, nu i dưỡng các con đầ đủ, kh ng đ các con thiếu thốn gì, từ mấ năm na anh P cũng kh ng chu cấp cho con na anh P tự giác cho con bao nhiêu thì tùy. Hiện tại các con đang ở với chị bên ngoại.

Về tài sản chung: Chị thống nhất với anh P đến na vợ chồng kh ng còn tài sản chung nên kh ng êu cầu chia.

Về nợ: Vợ chồng còn nợ: Nợ bà Đỗ Thị Đ (tức L) tổng số tiền 58.200.000 đồng, gồm 11 triệu đồng va đ anh P đi làm ăn tại Trung Quốc, 45 triệu đồng là tiền nợ góp phường do bà Đ đứng ra góp hộ và 2,2 triệu đồng anh P nợ tiền mua rượu. Nợ chị Ngu n Thị Th 18 triệu đồng, va năm 2016 đ chi tiêu trong gia đình và trả nợ. Nợ ng Ngu n Văn T1 13 triệu đồng là khoản mua vật liệu xâ dựng làm nhà. Nợ anh Trần Quang H1 15 triệu đồng do mua gạch ốp, thiết bị nội thất khi làm nhà năm 2015. Nợ bà Ngu n Thị V (tức bà D) 05 chỉ vàng, va năm 2014 đ chi tiêu đóng học cho con và chi tiêu trong gia đình. Nợ anh trai chị là anh Ngu n Văn T2 (vợ là Ngu n Thị H) 02 chỉ vàng, va đ mua má bơm và khoan giếng khi làm nhà năm 2015. Nợ em gái chị là Ngu n Thị M1 do nhờ chị M1 đứng tên va hộ Ngân hàng Chính sách xã hội hu ện Hải Hậu 30 triệu đồng theo tiêu chuẩn hộ nghèo, va đ làm ăn. Nợ anh Ngu n Văn C 1.648.000 đồng tiền mua phân bón chăm sóc vườn câ . Nợ bà Ninh Thị M2 (tức bà Đ ng) 2.200.000 đồng tiền mua cám đ chăn nu i và mua nồi cơm điện. Ngoài ra anh P còn khai nợ mẹ chồng là bà Ngu n Thị H2 50.000.000 đồng, trước đâ bà H2 đã nói cho nhưng tại phiên tòa bà H2 êu cầu trả chị cũng nhất trí trả.

Đối với việc anh P khai tại phiên tòa còn nợ của chị Phạm Thị H2 có địa chỉ: xã HT, hu ện H là 60.000.000 đồng thì chị không nhất trí, chị kh ng biết anh P va chị H2 khi nào, sử dụng vào việc gì.

Chị êu cầu Tòa án chia đ i nợ chung. Chị nhận trực tiếp trả cho anh em nhà và người quen của chị ở xã HS.

Tại các đơn đề nghị và lời khai trong quá trình tố tụng; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Đỗ Thị Đ, chị Nguyễn Thị Th, ông Nguyễn Văn T1, ông Trần Quang H1, bà Nguyễn Thị V, anh Nguyễn Văn T2, chị Nguyễn Thị M1, ông Nguyễn Văn C và bà Ninh Thị M2 đều trình bày: Thống nhất với lời khai của chị Ngu n Thị H về số nợ và đều có êu cầu được trả nợ, kh ng êu cầu tính lãi.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị H2 trình bày: Bà là mẹ đẻ anh P. Trước đâ khi anh P, chị H xây nhà bà có cho vay 50.000.000 đồng, cho va chỉ nói miệng, kh ng lấ lãi. Na anh chị l h n bà êu cầu trả lại số tiền trên.

Tại phiên tòa, đại diện Viện ki m sát nhân dân hu ện Hải Hậu phát bi u quan đi m:

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình giải qu ết vụ án, Thẩm phán trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tại phiên tòa đều đảm bảo tuân thủ đúng qu định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với các đương sự đều chấp hành đúng qu ền, nghĩa vụ theo qu định pháp luật.

Về nội dung: Áp dụng Điều 55, 60, 81, 82 và 83 của Luật H n nhân và gia đình; các Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự đề nghị Hội đồng xét xử: C ng nhận thuận tình l h n giữa anh Ngu n Văn P và chị Ngu n Thị H. Công nhận sự thỏa thuận của anh P và chị H tại phiên tòa, giao cho chị H trực tiếp nu i ba con chung là Ngu n Thị Lan A1, Ngu n Thị Ngọc A2 và Ngu n Thị Ánh T; ghi nhận sự tự ngu ện của chị H kh ng êu cầu anh P cấp dưỡng nu i con chung. Về nợ: Xác nhận nợ chung của vợ chồng tổng cộng là 188.038.000 đồng và 07 chỉ vàng; giao cho anh P và chị H mỗi người trả 1/2 nợ chung. Đối với khoản nợ chị Phạm Thị H2 do anh P và chị H2 khai tại phiên tòa nhưng chị H không thừa nhận nên kh ng xem xét giải qu ết trong vụ án nà .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Người có qu ền lợi, nghĩa vụ liên quan là ng Trần Quang H1, ng Ngu n Văn C vắng mặt tại phiên tòa nhưng đều xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt những người có qu ền lợi, nghĩa vụ liên quan trên là phù hợp với qu định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ h n nhân: Anh Ngu n Văn P và chị Ngu n Thị H kết h n trên cơ sở tự ngu ện, có đăng ký kết h n ngà 18/7/2003 tại Ủ ban nhân dân xã HĐ, hu ện H nên có quan hệ h n nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống do hai bên đều nghi ngờ nhau về chung thủ vợ chồng nên xả ra mâu thuẫn và đã l thân từ tháng 10/2017 đến na . Tại phiên tòa anh Ngu n Văn P và chị Ngu n Thị H đều xác nhận tình cảm vợ chồng kh ng còn, kh ng th đoàn tụ được; anh P xin ly hôn, chị H cũng nhất trí. Xét việc thỏa thuận của các đương sự là tự nguyên, vì vậ cần c ng nhận thuận tình l h n giữa anh P và chị H là phù hợp qu định tại Điều 55 của Luật H n nhân và Gia đình.

Về con chung: Anh P và chị H thống nhất vợ chồng có ba con chung là Ngu n Thị Lan A1, sinh ngà 28/12/2004; Ngu n Thị Ngọc A2, sinh ngày 15/9/2008 và Ngu n Thị Ánh T, sinh ngà 13/4/2017. Hiện tại các con đều ở với chị H. Cháu Lan A1 và cháu Ngọc A2 đều có ngu ện vọng được ở với mẹ, cháu Ánh T còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Tại phiên tòa, anh P và chị H đã thống nhất việc nu i con theo ngu ện vọng của các con và đã thỏa thuận đ chị H trực tiếp nuôi ba con. Xét thấ việc thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự ngu ện; chị H cũng đã nu i ba con ổn định bình thường từ năm 2017 đến na , tự ngu ện kh ng êu cầu anh P cấp dưỡng nu i con. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự là phù hợp qu định tại các Điều 81, 82 và 83 của Luật H n nhân và gia đình.

Về tài sản chung: Anh P và chị H thống nhất vợ chồng kh ng còn tài sản chung và đều kh ng êu cầu gì nên Hội đồng xét xử kh ng xem xét.

Về nợ:

Anh P và chị H thống nhất vợ chồng còn nợ ông Ngu n Văn T1 13.000.000 đồng, nợ ng Ngu n Văn C 1.648.000 đồng và nợ mẹ chồng là bà Ngu n Thị H2 50.000.000 đồng. Ông T1, ông C và bà H2 đều xác nhận có số nợ như trên và êu cầu trả nợ. Căn cứ khoản 2 Đều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định các khoản nợ trên là có thật và là nợ chung của vợ chồng theo qu định tại Điều 37 của Luật H n nhân và gia đình.

Chị Ngu n Thị H khai vợ chồng còn nợ bà Đỗ Thị Đ 58.200.000 đồng, nợ chị Ngu n Thị Th 18.000.000 đồng; nợ anh Trần Quang H1 15.000.000 đồng; nợ bà Ngu n Thị V 05 chỉ vàng; nợ anh Ngu n Văn T2 (Hà) 02 chỉ vàng; nợ chị Ngu n Thị M1 30.000.000 đồng; nợ bà Ninh Thị M2 2.200.000 đồng. Bà Đ, chị Th, anh H1, bà V, anh T2, chị M1 và bà M2 đều xác nhận có số nợ như trên. Tuy nhiên anh Ngu n Văn P cho rằng vợ chồng chỉ còn nợ bà Đ 2.200.000 đồng mua rượu, không đồng ý các khoản nợ còn lại. Hội đồng xét xử xét thấ , tại biên bản đối chất ngà 23/7/2019, anh P thừa nhận vợ chồng có va nợ chị Th, nợ tiền góp phường của bà Đ nhưng kh ng đưa ra được chứng cứ chứng minh đã trả nợ xong nên có cơ sở xác định còn nợ chị Th, bà Đ. Đối với các khoản nợ của bà V, anh T2, chị M1 và bà M2 tuy do chị H đứng ra vay, kh ng có giấ tờ biên nhận nhưng lý do va đ sử dụng vào việc làm nhà, trả nợ và chi tiêu, mua sắm phục vụ đời sống chung của gia đình trong thời gian vợ chồng chưa l thân. Do đó có cơ sở xác định là nợ chung của vợ chồng và các bên có trách nhiệm liên đới trả nợ theo qu định tại Điều 27, Điều 37 của Luật H n nhân và gia đình năm 2014.

Tại phiên tòa, anh P khai còn nợ chị Phạm Thị H2 là bạn anh số tiền 60.000.000 đồng, tu nhiên chị H kh ng thừa nhận vợ chồng va tiền chị H2, anh P cũng kh ng đưa ra được chứng cứ chứng minh là nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải qu ết trong vụ án nà . Nếu chị H2 có êu cầu đòi nợ thì có qu ền khởi kiện vụ án dân sự khác.

Trong quá trình giải qu ết vụ án, Quỹ tín dụng nhân dân xã HA, hu ện H có đơn êu cầu anh P, chị H trả số nợ đã va gốc là 240 triệu đồng tu nhiên anh P, chị H đã bán nhà đang thế chấp đ trả nợ xong khoản nợ trên. Quỹ tín dụng nhân dân HA có đơn xác nhận thanh toán xong nợ và xin rút êu cầu, đề nghị kh ng tham gia tố tụng do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Như vậ tổng số nợ chung của vợ chồng anh P, chị H là 188.038.000 đồng và 07 chỉ vàng. Xét chị H đang phải nu i ba con nên khi phân chia nghĩa vụ trả nợ cần được xem xét trả nợ ít anh P là phù hợp qu định pháp luật.

Về án phí: Anh Ngu n Văn P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc l h n theo qu định của pháp luật.

Các đương sự kh ng phải chịu án phí giải qu ết chia nợ theo pháp luật.

Tại thời đi m xét xử (ngày 02/10/2019) giá vàng loại 9999 được xác định là 4.100.000 đồng/chỉ.

Về qu ền kháng cáo: Các đương sự có qu ền kháng cáo theo qu định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 55, 60; 81, 82 và 83 Luật H n nhân và gia đình; các Điều 357, 430, 440, 463, 466 và 468 của Bộ luật Dân sự; hoản 1 Điều 227, hoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

1. Về h n nhân: C ng nhận sự thuận tình l h n giữa anh Ngu n Văn P và chị Ngu n Thị H.

2. Về việc nuôi con chung: C ng nhận sự thỏa thuận của các đương sự:

Giao cho chị Ngu n Thị H trực tiếp chăm sóc, nu i dưỡng ba con chung là Ngu n Thị Lan A1, sinh ngày 28/12/2004; Ngu n Thị Ngọc A2, sinh ngày 15/9/2008 và Ngu n Thị Ánh T, sinh ngà 13/4/2017 cho đến khi các con thành niên và có khả năng lao động tự lập được (hiện các con đang ở với chị H).

Anh Ngu n Văn P kh ng phải cấp dưỡng nu i con chung và được qu ền thăm nom con sau khi l h n theo qu định của pháp luật, kh ng ai được cản trở.

3. Về nghĩa vụ trả nợ:

3.1. Giao cho anh Ngu n Văn P trả nợ:

- Trả cho bà Đỗ Thị Đ 58.200.000 đồng.

- Trả cho ông Ngu n Văn T1 13.000.000 đồng.

- Trả cho anh Ngu n Văn C 1.648.000 đồng.

- Trả cho bà Ngu n Thị H2 50.000.000 đồng.

Tổng cộng là 122.848.000đ (Một trăm hai mươi hai triệu tám trăm bốn mươi tám nghìn đồng).

3.2. Giao cho chị Ngu n Thị H trả nợ:

- Trả cho chị Ngu n Thị Th 18.000.000 đồng.

- Trả cho anh Trần Quang H1 15.000.000 đồng.

- Trả cho bà Ngu n Thị V 05 chỉ vàng 9999.

- Trả cho anh Ngu n Văn T2 02 chỉ vàng 9999.

- Trả cho chị Ngu n Thị M1 30.000.000 đồng.

- Trả cho bà Ninh Thị M2 2.200.000 đồng

Tổng cộng là 65.200.000đ (Sáu lăm triệu hai trăm nghìn đồng) và 07 (bả ) chỉ vàng 9999.

3.3. Chị Ngu n Thị H kh ng phải thanh toán chênh lệch nghĩa vụ trả nợ cho anh Ngu n Văn P.

từ ngà có đơn êu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qu định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có qu định khác.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; đi m a khoản 5 Điều 27 Nghị qu ết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủ ban thường vụ Quốc hội qu định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Anh Ngu n Văn P phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí l h n, được trừ vào số tiền 1.300.000đ (một triệu ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số AA/2016/0000360 ngày 25 tháng 3 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự hu ện Hải Hậu. Anh Ngu n Văn P được trả lại số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng).

Trả lại chị Ngu n Thị H số tiền tạm ứng án phí chia tài sản đã nộp là 1.000.000 đồng tại biên lai số AA/2016/0000528 ngà 26 tháng 7 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự hu ện Hải Hậu

5. Về qu ền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có qu ền kháng cáo trong thời hạn 15 ngà k từ ngà tu ên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có qu ền kháng cáo trong thời hạn 15 ngà k từ ngà được tống đạt bản án hợp lệ.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo qu định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có qu ền thỏa thuận thi hành án, qu ền êu cầu thi hành án, tự ngu ện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qu định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qu định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nh n:

Cỡ chữ