vanban.org

Bản án 267/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Long Biên, TP. Hà Nội Tuyên án 29/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn N và đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 267/2022/HS-ST
Ngày: 29 - 11 -2022

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lưu Đình Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Luyện

Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoàng Yến - Thư ký Toà án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Lê Đăng Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 N 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 231/2022/TLST - HS ngày 04 tháng 10 N 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 238/2022/QĐXXST-HS ngày 12/10/2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 113/2022/HSST-QĐ ngày 27/10/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 123/2022/HSST-QĐ ngày 16/11/2022 đối với các bị cáo:

1. DƯƠNG VĂN N, sinh N 1989; Giới tính: Nam; HKTT: Xóm An Miên, xã Thành Công, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên; Chỗ ở: Tổ 8 phường Phúc Lợi, quận Long Biên, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Văn Lụcvà bà Dương Thị Lợi;Gia đình có 05 anhchị em, bị cáo là thứ N; Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 455 lập ngày 15/6/2022 của Công an quận Long Biên, thành phố Hà Nội và lý lịch địa phương cung cấp, bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 5/6/2022 đến ngày 14/6/2022, hủy bỏ biện pháp tạm giữ, hiện áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)

2. LÊ ĐĂNG K, sinh N 1988; Giới tính: Nam; HKTT: Thôn 3, Thọ Lộc, Thọ Xuân, Thanh Hóa; Chỗ ở: Tổ 8 phường Phúc Lợi, quận Long Biên, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Tiến Dũng và bà Lê Thị Huệ; Vợ: Lê Thị Trang, có 01 con sinh N 2019; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 451 lập ngày 15/6/2022 của Công an quận Long Biên, thành phố Hà Nội và lý lịch địa phương cung cấp, bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 5/6/2022 đến ngày 14/6/2022, hủy bỏ biện pháp tạm giữ, hiện áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)

3. NGUYỄN MẠNH C, sinh N 1991; Giới tính: Nam; HKTT và chỗ ở: Tổ 4B thị trấn Phố Ràng, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Mợi và bà Hoàng Thị Nguyệt;Gia đình có 02chị em, bị cáo là thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 450 lập ngày 15/6/2022 của Công an quận Long Biên, thành phố Hà Nội và lý lịch địa phương cung cấp, bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 5/6/2022 đến ngày 14/6/2022, hủy bỏ biện pháp tạm giữ, hiện áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)

4. NGUYỄN VĂN Q, sinh N 2000; Giới tính: Nam; HKTT và chỗ ở: Thôn Lam Thịnh, xã Thanh Thịnh, Thanh Chương, Nghệ An; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Hòavà bà Trần Thị Thành; Vợ: Phan Thị Thương, có 01 con sinh N 2022; Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 452 lập ngày 15/6/2022 của Công an quận Long Biên, thành phố Hà Nội và lý lịch địa phương cung cấp, bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 5/6/2022 đến ngày 14/6/2022, hủy bỏ biện pháp tạm giữ, hiện áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)

5. HOÀNG ĐỨC T, sinh N 1992; Giới tính: Nam; HKTT: Thôn Làng Huyền, xã Trấn Yên, huyện Bắc S, tỉnh Lạng S; Chỗ ở: Tổ 10 phường Phúc Lợi, quận Long Biên, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Đình Dựng và bà Hoàng Thị Thực; Gia đình có 05 chị em, bị cáo là thứ N; Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 453 lập ngày 15/6/2022 của Công an quận Long Biên, thành phố Hà Nội và lý lịch địa phương cung cấp, bị cáo có 01 tiền án.

- Bản án số 15 ngày 15/4/2010 TAND huyện Bắc S, tỉnh Lạng S xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 24 tháng về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ. Bị cáo và ông Hoàng Đình Dựng phải bồi thường số tiền 15.000.000đ cho anh Dương Công Ngọc và chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 200.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Nộp án phí ngày 24/5/2010. Đối với số tiền bồi thường cho anh Dương Công Ngọc, tại Công văn số 194 ngày 15/7/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc S cung cấp Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc S đã rà soát dữ liệu, sổ sách từ ngày án có hiệu lực pháp luật đến nay đại diện gia đình bị hại không có đơn yêu cầu thi hành án, do vậy Chi cục không có cơ sở để giải quyết. Bị cáo đã được xoá án tích

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 5/6/2022 đến ngày 14/6/2022, hủy bỏ biện pháp tạm giữ, hiện áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)

6. LÊ ĐÌNH S, sinh N 1991; Giới tính: Nam; HKTT: Thôn Thành Huy, xã Đông Ninh, Huyện Đông S, tỉnh Thanh Hóa; Chỗ ở: Số nhà 199, Tổ 17 phường Sài Đồng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Đình Lệ và bà Lê Thị Thơ; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ hai; Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 454 lập ngày 15/6/2022 của Công an quận Long Biên, thành phố Hà Nội và lý lịch địa phương cung cấp, bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 5/6/2022 đến ngày 14/6/2022, hủy bỏ biện pháp tạm giữ, hiện áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)

Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Đức T: Ông Lê Q Đạo – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước – Thành phố Hà Nội (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13h20 ngày 05/6/2022, tại tổ 8 phường Phúc Lợi, Long Biên, Hà Nội, đội ĐTTH Công an quận Long Biên phối hợp cùng Công an phường Phúc Lợi bắt quả tang Dương Văn N (SN: 1989, HKTT: Thành Công, Phổ Yên, Thái Nguyên), Lê Đăng K (SN: 1988, HKTT: Thọ Lộc, Thọ Xuân, Thanh Hoá), Nguyễn Mạnh C (SN: 1991, HKTT: Phố Ràng, Bảo Yên, Lào Cai), Nguyễn Văn Q (SN: 2000, HKTT: Thanh Thịnh, Thanh Chương, Nghệ An), Hoàng Đức T (SN: 1992, HKTT: Trấn Yên, Bắc S, Lạng S), Lê Đình S (SN: 1991, HKTT: Đông Ninh, Đông S, Thanh Hoá) đánh bạc dưới hình thức đánh Liêng. Ngoài ra, có Hồ Xuân Trường (SN: 1992, HKTT: Quỳnh Lôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An), Phan Văn Hào (SN: 1991, HKTT: Đồng Thanh, Yên Thành, Nghệ An) và Phan Văn Cao (SN: 1993, HKTT: Phú Châu, Ba Vì, Hà Nội) có mặt trong phòng. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong thu giữ tang vật và đưa các đối tượng về trụ sở để làm rõ.

Tang vật thu giữ gồm: 01 bộ bài gồm 52 quân, 12.880.000đ, 01 điện thoại Vivo màu xanh đen và 01 ví da màu đen của Dương Văn N, 01 điện thoại Iphone 7 màu đen và 01 ví da màu nâu của Lê Đăng K, 01 điện thoại Iphone 6s màu bạc của Nguyễn Mạnh C, 01 điện thoại Iphone X màu trắng và 01 ví da màu nâu của Nguyễn Văn Q, 01 điện thoại Iphone 6 của Hoàng Đức T, 01 điện thoại Oppo Reno 6 và 01 ví da màu ghi của Lê Đình S.

Tại cơ quan điều tra, các bị cáo khai nhận: sáng ngày 05/6/2022, Dương Văn N gọi điện thoại rủ K, C, Q, T và S đến phòng trọ của N ở tổ 8 phường Phúc Lợi, quận Long Biên, Hà Nội để đánh bạc dưới hình thức Liêng. N là người chuẩn bị bộ bài và thức ăn, nước uống cho các con bạc.

Các bị cáo thống nhất hình thức chơi như Liêng như sau: khi chơi mỗi người chơi phải đặt cược số tiền 20.000đ vào trong tiền gà của chiếu bạc. Sau đó bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài chia cho 6 người chơi, mỗi người 03 quân và người chơi chọn “Tố”, “Theo”, “Bỏ” lần lượt theo chiều kim đồng hồ. Ai “Bỏ” sẽ mất số tiền cược 20.000đ ban đầu. Ai “Theo” thì tiếp tục ván chơi và bỏ thêm tiền gà bằng với số tiền người trước “Tố”. Người chọn “Tố” phải theo số tiền của người trước sau đó thêm tiền của mình. Khi không có ai tố thêm thì người còn lại cuối cùng sẽ thắng. Nếu sau khi không có ai tố mà vẫn còn hai người chơi trở lên thì sẽ hạ bài, cộng điểm để xác định thắng thua. Sáp (bài có ba quân giống nhau) là cao nhất, Liêng (ba lá bài có số liên tiếp) cao nhì, đĩ (3 là bài có hình đầu người) cao thứ ba và ảnh (cộng điểm tối đa là 9). Sau mỗi ván chơi, các đối tượng cắt lại 20.000đ cho N. Các đối tượng chơi đến khoảng 13h30 ngày 05/6/2022 thì bị lực lượng công an bắt quả tang cùng tang vật.

Khi chơi N sử dụng 1.700.000đ để đánh bạc, khi bị bắt N có 2.700.000đ trên chiếu.

Khi chơi Q sử dụng 2.500.000đ để đánh bạc, khi bị bắt Q có 580.000đ trên chiếu.

Khi chơi C sử dụng 1.450.000đ để đánh bạc, khi bị bắt C có 4.800.000đ trên chiếu.

Khi chơi T sử dụng 1.500.000đ để đánh bạc, khi bị bắt T có 340.000đ trên chiếu.

Khi chơi S sử dụng 1.000.000đ và vay của N 3.000.000đ để đánh bạc, khi bị bắt S có 660.000đ trên chiếu.

Khi chơi K sử dụng 2.000.000đ để đánh bạc, khi bị bắt K có 3.800.000đ trên chiếu.

Đối với Hồ Xuân Trường, Phan Văn Hào và Phan Văn Cao tài liệu điều tra xác định các anh đến nhà N để chơi. Khi đến thấy các đối tượng đang đánh bạc nên Trường, Hào và Cao lên giường nằm xem điện thoại. Các anh không tham gia đánh bạc vì vậy, cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý hình sự đối với Trường, Hào và Cao.

Đối với 01 điện thoại Vivo màu xanh đen và 01 ví da màu đen của Dương Văn N, 01 điện thoại Iphone 7 màu đen và 01 ví da màu nâu của Lê Đăng K, 01 điện thoại Iphone 6s màu bạc của Nguyễn Mạnh C, 01 điện thoại Iphone X màu trắng và 01 ví da màu nâu của Nguyễn Văn Q, 01 điện thoại Iphone 6 của Hoàng Đức T, 01 điện thoại Oppo Reno 6 và 01 ví da màu ghi của Lê Đình S, số tiền 12.880.000đ và 01 bộ bài các bị can sử dụng vào việc phạm tội, chuyển TAND quận Long Biên xem xét, xử lý.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Tại Cáo trạng số: 201/CT - VKS ngày 29/8/2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố Dương Văn N, Lê Đăng K, Nguyễn Mạnh C, Nguyễn Văn Q, Hoàng Đức T, Lê Đình S về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa thấy rằng: Hành vi củacác bị cáo Dương Văn N, Lê Đăng K, Nguyễn Mạnh C, Nguyễn Văn Q, Hoàng Đức T, Lê Đình S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự 2015.

Về hình phạt đề nghị:

Áp dụng khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 BLHS 2015 đối với các bị cáo Dương Văn N, Lê Đăng K, Nguyễn Mạnh C, Nguyễn Văn Q, Lê Đình S. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 BLHS 2015 đối với bị cáo Hoàng Đức T.

Đề nghị xử phạt các bị cáo với mức án sau:

- Bị cáo Dương Văn N từ 15 đến 18 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 30 đến 36 tháng.

-Bị cáo Lê Đăng K từ 10 đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 20 đến 24 tháng.

- Bị cáo Nguyễn Mạnh C từ 10 đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 20 đến 24 tháng.

- Bị cáo Nguyễn Văn Q từ 10 đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 20 đến 24 tháng.

- Bị cáo Lê Đình S từ 12 đến 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 24 đến 30 tháng.

- Bị cáo Hoàng Đức T từ 12 đến 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 24 đến 30 tháng.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS N 2015.

- Đề nghị cho tịch thu, tiêu hủy 01 bộ bài gồm 52 quân;

- Đề nghị trả lại 01 ví da màu đen cho Dương Văn N; 01 ví da màu nâu cho Lê Đăng K; 01 ví da màu nâu cho Nguyễn Văn Q; 01 ví da màu ghi cho Lê Đình S.

- Đề nghị cho tịch thu, sung quỹ Nhà nước số tiền thu trên chiếu bạc là 12.880.000 đồng (Mười hai triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng); 01 điện thoại Vivo màu xanh đen của Dương Văn N, 01 điện thoại Iphone 7 màu đen của Lê Đăng K, 01 điện thoại Iphone 6s màu bạc của Nguyễn Mạnh C, 01 điện thoại Iphone X màu trắng của Nguyễn Văn Q, 01 điện thoại Iphone 6 của Hoàng Đức T, 01 điện thoại Oppo Reno 6 của Lê Đình S.

Ông Lê Q Đạo – Trợ giúp viên pháp lý là người bào chữa cho bị cáo Hoàng Đức T trong phần tranh luận nhất trí với kết luận và luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ TNHS và đề nghị để bị cáo T được hưởng án treo. Đề nghị HĐXX xem xét bị cáo phạm tội có mức độ thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng, tiền tham gia đánh bạc không lớn, bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, có nơi cư trú rõ ràng, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, gia đình có công với cách mạng, bố được tặng huân chương chiến sỹ vẻ vang, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Đề nghị HĐXX để mức án thấp mà Viện kiểm sát đề nghị để bị cáo được hưởng án treo.

Bị cáo T nhất trí với lời trình bày bào chữa của người bào chữa cho bị cáo và không bổ sung gì.

Nói lời sau cùng, các bị cáonhận thức hành vi phạm tội của mình là sai, vi phạm pháp luật. Mong HĐXX cho các bị cáo được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Long Biên, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo không có ý kiến gìvà không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về tội danh:

Xét lời khai nhận của các bị cáo Dương Văn N, Lê Đăng K, Nguyễn Mạnh C, Nguyễn Văn Q, Hoàng Đức T, Lê Đình Stại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu; lời khai người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dung bản Cáo trạng của Viện Kiểm Sát đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 05/6/2022, tại tổ 8 phường Phúc Lợi, Long Biên, Hà Nội, các bị cáo Dương Văn N, Lê Đăng K, Nguyễn Mạnh C, Nguyễn Văn Q, Hoàng Đức T, Lê Đình S có hành vi đánh bạc sát phạt bằng tiền dưới hình thức đánh liêng thì bị công an phát hiện bắt quả tang thu giữ trên chiếu bạc với tổng số tiền 12.880.000đ (Mười hai triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng) và 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân các bị cáo đã sử dụng đánh bạc.

Hành vi của các bị cáo Dương Văn N, Lê Đăng K, Nguyễn Mạnh C, Nguyễn Văn Q, Hoàng Đức T, Lê Đình Sđã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015. Do đó Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã đưa ra chứng cứ buộc tội và truy tố các bị cáo trên về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS 2015 là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý xâm phạm trật tự công cộng được bộ luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội nên cần phải có hình phạt tương xứng, phù hợp với hành vi phạm tội của các bị cáo thực hiện.

Trong vụ án đồng phạm giảm đơn các bị cáo giữ vai trò đánh bạc tham gia tích cực.

- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng:

- Xét nhân thân bị cáo Hoàng Đức T có 01 tiền án: Ngày 15/4/2010 TAND huyện Bắc S, tỉnh Lạng S xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 24 tháng về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ. Bị cáo T và ông Hoàng Đình Dựng (giám hộ) phải bồi thường cho đại diện bị hại là Dương Công Ngọc số tiền 50.000.000 đồng, đã bồi thường 35.000.000 đồng nay bị cáo T và ông Dựng phải bồi thường tiếp 15.000.000đ, phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 200.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Bị cáo đã nộp án phí ngày 24/5/2010. Đối với số tiền bồi thường cho Dương Công Ngọc, tại Công văn số 194 ngày 15/7/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc S cung cấp Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc S đã rà soát dữ liệu, sổ sách từ ngày án có hiệu lực pháp luật đến nay đại diện gia đình bị hại không có đơn yêu cầu thi hành án, do vậy Chi cục không có cơ sở để giải quyết. Căn cứ Điều 30 Luật Thi hành án trong thời hạn 5 N, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật cho đến nay đã hết thời hiệu thi hành án. Đối với bản án trên khi bị cáo phạm tội đang ở độ tuổi vị thành niên (16 tuổi 11 tháng 07 ngày), căn cứ Điều 107 Bộ luật hình sự về xóa án tích thì người dưới 18 tuổi bị kết án được coi là không có án tích. Theo luật định tiền án trên đã được xóa, do đó bị cáo T không có tình tiết tăng nặng TNHS.

Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bản thân bị cáo đã có thời gian phục vụ trong quân đội, đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, gia đình có công với cách mạng, bố bị cáo được chủ tịch nước tặng huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng ba, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo đây là những tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS.

- Xét nhân thân các bị cáo Dương Văn N trước ngày phạm tội chưa có tiền án, tiền sự. Ngày 05/6/2022 đã sử dụng chỗ ở (Nơi thuê trọ) mình quản lý và dùng phương tiện để chưa chấp cùng các bị cáo đánh bạc ngày 14/8/2022 Công an quận Long Biên quyết định xử phạt hành chính phạt tiền 750.000 đồng. Còn các bị cáo Lê Đăng K, Nguyễn Mạnh C, Nguyễn Văn Q, Lê Đình S đều chưa có tiền án, tiền sự nên không có tình tiết tăng nặng TNHS.

Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa cácbị cáo Dương Văn N, Lê Đăng K, Nguyễn Mạnh C, Nguyễn Văn Q, Lê Đình S phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc không nhiều, các bị cáo đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa phương, bị cáo C có thời gian phục vụ trong quân đội và đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự đây là những tình tiết giảm nhẹ theo điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS.

Xét về hành vi, tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm mà các bị cáo T, N, K, C, Q, S đều phạm tội có mức độ, tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc không nhiều, không có tình tiết tăng nặng TNHS, đều là công nhân có việc làm ổn định, có nơi cư trú rõ ràng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Các bị cáo đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn, các bị cáo C, T có thời gian phục vụ trong quân đội đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, xuất ngũ về địa phương, gia đình bị cáo T có công với cách mạng và bố được Chủ tịch nước tặng Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng ba và gia đình thuộc hộ nghèo. Căn cứ vào Nghị quyết số 01/2022/NQ – HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo có hiệu lực kể từ ngày 10/5/2022 thì các bị cáo trên có đủ điều kiện để hưởng án treo nên HĐXX để các bị cáo T, N, K, C, Q, S được hưởng án treo, cải tạo bên ngoài xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

Khi lượng hình HĐXX cũng xem xét đến mức độ, vai trò và tiền của từng bị cáo sử dụng vào đánh bạc để từ đó có một mức án cho phù hợp đối với từng bị cáo.

Đại diện VKS đề nghị mức hình phạt phạt tù cho hưởng án treo đối với các bị cáo T, N, K, C, Q, S là phù hợp với nhận định của HĐXX.

Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy các bị cáo Dương Văn N, Lê Đăng K, Nguyễn Mạnh C, Nguyễn Văn Q, Hoàng Đức T, Lê Đình S công việc và thu nhập không ổn định, đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của HĐXX.

:

Về xử lý vật chứng

- Trả lại cho các bị cáo Dương Văn N 01 ví da màu đen; Lê Đăng K 01 ví da màu nâu; Nguyễn Văn Q 01 ví da màu nâu; Lê Đình S 01 ví da màu ghi do không liên quan đến tội phạm.

- Cho tịch thu, tiêu hủy 01 bộ bài 52 quân là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng đi đánh bạc.

- Cho tịch thu, sung quỹ Nhà nước 12.880.000 đồng (Mười hai triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng) thu của các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc và 01 điện thoại Vivo màu xanh đen của Dương Văn N, 01 điện thoại Iphone 7 màu đen của Lê Đăng K, 01 điện thoại Iphone 6s màu bạc của Nguyễn Mạnh C, 01 điện thoại Iphone X màu trắng của Nguyễn Văn Q, 01 điện thoại Iphone 6 của Hoàng Đức T, 01 điện thoại Oppo Reno 6 của Lê Đình S do các bị cáo đã sử dụng vào việc liên lạc tham gia đánh bạc.

(Tang vật hiện đang giữ tại kho của Chi cục thi hành án dân sự quận Long biên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/8/2022 và Giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 30/8/2022)

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về xử lý vật chứng là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Về vấn đề khác:

Đối với Hồ Xuân Trường, Phan Văn Hào và Phan Văn Cao và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, tài liệu điều tra xác định các anh đến nhà N để chơi. Khi đến thấy các đối tượng đang đánh bạc nên Trường, Hào và Cao lên giường nằm xem điện thoại. Các anh không tham gia đánh bạc vì vậy, cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý hình sự đối với Trường, Hào và Cao là có căn cứ.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự N 2015.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình phạt:

Tuyên bố các bị cáo Dương Văn N, Lê Đăng K, Nguyễn Mạnh C, Nguyễn Văn Q, Hoàng Đức T, Lê Đình S phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1 điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 BLHS 2015; Nghị quyết số 01/2022/NQ – HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo đối với Hoàng Đức T.

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Đức T 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (Hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo T cho UBND phường Phúc Lợi, quận Long Biên, thành phố Hà Nội để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Căn cứ khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 BLHS 2015; Nghị quyết số 01/2022/NQ – HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo đối với các bị cáo Dương Văn N, Lê Đăng K, Nguyễn Mạnh C, Nguyễn Văn Q, Lê Đình S.

Xử phạt: Bị cáo Dương Văn N 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (Ba mười) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo N cho UBND phường Phúc Lợi, quận Long Biên, thành phố Hà Nội để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Xử phạt: Bị cáo Lê Đăng K 10 (Mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 20 (Hai mươi) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo K cho UBND phường Phúc Lợi, quận Long Biên, thành phố Hà Nội để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Mạnh C 10 (Mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 20 (Hai mươi) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo C cho UBND thị trấn Phố Ràng, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Q 10 (Mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 20 (Hai mươi) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Q cho UBND xã Thanh Thịnh, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Xử phạt: Bị cáo Lê Đình S 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (Hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo S cho UBND phường Sài Đồng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền đối với các bị cáo.

2.Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộluật Hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

- Trả lại cho các bị cáo Dương Văn N 01 ví da màu đen; Lê Đăng K 01 ví da màu nâu; Nguyễn Văn Q 01 ví da màu nâu; Lê Đình S 01 ví da màu ghi do không liên quan đến tội phạm.

- Cho tịch thu, tiêu hủy 01 bộ bài 52 quân là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng đi đánh bạc.

- Cho tịch thu, sung quỹ Nhà nước 12.880.000 đồng (Mười hai triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng) thu của các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc và 01 điện thoại Vivo màu xanh đen của Dương Văn N, 01 điện thoại Iphone 7 màu đen của Lê Đăng K, 01 điện thoại Iphone 6s màu bạc của Nguyễn Mạnh C, 01 điện thoại Iphone X màu trắng của Nguyễn Văn Q, 01 điện thoại Iphone 6 của Hoàng Đức T, 01 điện thoại Oppo Reno 6 của Lê Đình S do các bị cáo đã sử dụng vào việc liên lạc tham gia đánh bạc.

(Tang vật hiện đang giữ tại kho của Chi cục thi hành án dân sự quận Long biên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/8/2022 và Giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 30/8/2022)

3.Về án phí : Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Các bị cáo N, K, C, Q, T, S mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Án xử công khai sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ