vanban.org

Bản án 267/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 27/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo: Nguyễn Minh H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/4/2022. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 267/2022/HS-ST
Ngày: 27-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hòa

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Lê Thị Phương Hồ

2/ Ông Nguyễn Ngọc Cảnh

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiếu - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ctiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 177/2022/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 246/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 179/2022/HSST-QĐ ngày 29 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Minh H, giới tính: Nam, sinh ngày 05 tháng 9 năm 1987 tại tỉnh C. Nơi cư trú: Tổ 64, Khu phố 6, phường T1, thành phố G, tỉnh C; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 03/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh B (chết) và bà Nguyễn Thị T; Anh chị em: 03 người; Vợ, con: chưa.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Ngày 20/6/2008, Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh C xử phạt Nguyễn Minh H 30 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; tổng hợp hình phạt chung cho cả 02 tội danh buộc Nguyễn Minh H chấp hành hình phạt chung là 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 59 tháng 12 ngày tính từ ngày 20/6/2008 theo Bản án số 102/2008/HSST.

- Ngày 28/6/2010, Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh C xử phạt Nguyễn Minh H 04 năm tù, về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo Bản án số 104/HSST. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 102/2008/HSST ngày 20/6/2008 của Tòa án nhân dân thị xã D, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là là 07 năm tù. Chấp hành xong án phạt tù ngày 14/02/2015, bị cáo đã nộp xong án phí hình sự sơ thẩm của 02 bản án.

- Ngày 26/11/2015, Tòa án nhân dân thành phố G, tỉnh C áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 20 tháng, đã chấp hành xong.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/4/2022.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 06 giờ 30 phút ngày 21/4/2022, Nguyễn Minh H điều khiển xe gắn máy biển số 51X7-7699 đi từ nhà đến khu vực xã H1, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh để mua chất ma túy sử dụng. Đến nơi, Bị cáo H sử dụng điện thoại di động hiệu Nokia gọi vào số máy 0774796796 gặp người thanh niên (không rõ lai lịch) hỏi mua 200.000 đồng chất ma túy. Người này đồng ý bán và hẹn giao nhận tiền, chất ma túy tại Trạm xăng dầu số 1840 Đường X1, Ấp 2, xã H1, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Thỏa thuận xong, Bị cáo H điều khiển xe đến điểm hẹn gặp người thanh niên đeo khẩu trang che kín mặt, Bị cáo H giao 200.000 đồng và nhận 01 đoạn ống nhựa bên trong chứa ma túy loại chất bột màu trắng từ người này. Bị cáo H cầm 01 đoạn ống nhựa chứa chất ma túy trên tay trái rồi điều khiển xe đi về. Vào khoảng 07 giờ 00 phút cùng ngày, khi đi đến đường bờ bao sông Sài Gòn thì Bị cáo H phát hiện lực lượng Công an nên bỏ chạy đến Đường số 188 thuộc Tổ 3, Ấp 3, xã Y, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh bị lực lượng Công an xã Y đuổi kịp yêu cầu dừng xe kiểm tra. Lúc này, Bị cáo H ném đoạn ống nhựa chứa chất ma túy xuống đất cách vị trí chân trái của Bị cáo H khoảng 0,5 mét nhưng bị Công an phát hiện thu giữ, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Bị cáo H về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Kết luận giám định số 2368/KLGĐ-MT ngày 29/4/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Bột màu trắng trong 01 đoạn ống nhựa được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Minh H và hình dấu Công an xã Y, huyện C (ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1463g, loại Heroine (bút lục 90).

Xét nghiệm chất ma túy đối với Nguyễn Minh H có kết quả dương (+) tính với chất ma túy.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra, Nguyễn Minh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

* Vật chứng vụ án:

- 01 đoạn ống nhựa bên trong chứa chất bột màu trắng, sau khi giám định được niêm phong trong 01 gói mang số vụ 447/22 có chữ ký của Giám định viên và cán bộ điều tra.

- 01 xe gắn máy biển số 51X7-7699, số khung TDCC074115008910, số máy: VTTJL1P50FMG008910. Xe do Bị cáo H mua lại của một người thanh niên (chưa rõ lai lịch). Qua xác minh, người đứng tên đăng ký xe là ông Nguyễn Thanh S1 nhưng ông S1 đã bán cho người khác không rõ nhân thân, lai lịch. Cơ quan cảnh sát điều tra đã thông báo tìm chủ sỡ hữu nhưng chưa có người đến nhận.

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số Imeil 353163118119873.

Tại Bản cáo trạng số 170/CT-VKS.CC ngày 03/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cđã truy tố bị cáo Nguyễn Minh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cthực hiện quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, trình bày lời luận tội, đánh giá tính chất, mức độ và hậu quả nguy hiểm cho xã hội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù giam.

Về xử lý vật chứng:

- 01 (một) đoạn ống nhựa bên trong chứa chất bột màu trắng, niêm phong trong một gói mang số vụ 447/22 là ma túy, đây là chứng cứ vụ án không có giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

- 01 xe gắn máy biển số 51X7-7699, số khung TDCC074115008910, số máy: VTTJL1P50FMG008910, do bị cáo mua lại của một thanh niên chưa rõ lai lịch. Qua xác minh, người đứng tên đăng ký xe là ông Nguyễn Thanh S1 nhưng ông S1 đã bán cho người khác, cơ quan cảnh sát điều tra đã thông báo tìm chủ sở hữu nhưng chưa có ai liên hệ nhận tài sản. Do đó, cần tiếp tục đăng thông báo tìm chủ sở hữu theo quy định, trường hợp không có người đến nhận thì đề nghị tịch thu sung vào công quỹ Nhà Nước.

- 01 Điện thoại di động hiệu Nokia, số Imeil 353163118119873 là phương tiện bị cáo dùng để liên lạc với người bán ma túy, nên đề nghị tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước

* Bị cáo không có lời bào chữa, không có ý kiến tranh luận với phần luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cvà không trình bày lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại cơ quan điều tra cũng như qua thẩm tra xét hỏi trước phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Minh H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với vật chứng là ma túy thu giữ của bị cáo, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với kết luận của tổ chức giám định kỹ thuật hình sự về chất ma túy thu được của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo Nguyễn Minh H đã có hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang cùng tang vật, số ma túy thu giữ của bị cáo theo Kết luận giám định số 2368/KL-KTHS ngày 29/4/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh xác định chất bột màu trắng là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1463g (không phẩy một bốn sáu ba gam), loại Heroine nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ctruy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ đúng pháp luật.

Với hành vi nêu trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Minh H đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm được quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; bị cáo tàng trữ ma túy loại Heroine có khối lượng là 0,1463g (không phẩy một bốn sáu ba gam) nên thuộc tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tính chất, mức độ, động cơ, mục đích hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Nguyễn Minh H đủ khả năng nhận thức ma túy là chất gây nghiện mà Nhà nước cấm nhưng bị cáo vẫn bất chấp tàng trữ để sử dụng cho bản thân, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý chất gây nghiện, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội và là nguyên nhân làm phát sinh, phát triển các tệ nạn xã hội khác của xã hội; bản thân bị cáo đã bị Tòa án xét xử về tội xâm phạm sử hữu, xâm phạm sức khỏe của con người, tội phạm về ma túy; ngoài ra, bị cáo đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, sau khi chấp hành xong thời gian cai nghiện bị cáo không cải sửa được bản thân lại tiếp tục tàng trữ ma túy để sử dụng nên cần phải xử phạt bị cáo một mức hình phạt thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo đã thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi vi phạm của mình, là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 nên cần áp dụng để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bản thân bị cáo vì mục đích thỏa mãn bản thân mà phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: 01 (một) đoạn ống nhựa bên trong chứa chất bột màu trắng, niêm phong trong một gói mang số vụ 447/22 là ma túy, đây là chứng cứ vụ án không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. 01 (một) xe gắn máy biển số 51X7-7699, số khung TDCC074115008910, số máy: VTTJL1P50FMG008910, do bị cáo mua lại của một thanh niên chưa rõ lai lịch để sử dụng trong việc mua ma túy. Qua xác minh, người đứng tên đăng ký xe là ông Nguyễn Thanh S1, ông S1 đã bán cho người khác, cơ quan cảnh sát điều tra đã thông báo tìm chủ sở hữu nhưng chưa có ai liên hệ nhận tài sản. Do đó, cần tiếp tục đăng thông báo tìm chủ sở hữu theo quy định, trường hợp không có người chủ sở hữu đến nhận thì tịch thu sung vào công quỹ Nhà Nước. 01 Điện thoại di động hiệu Nokia, số Imeil 353163118119873 là phương tiện bị cáo dùng để liên lạc với người bán ma túy nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với thanh niên (không rõ lai lịch) là người bán ma túy cho bị cáo, đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo: Nguyễn Minh H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/4/2022.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) đoạn ống nhựa bên trong chứa chất bột màu trắng, niêm phong trong một gói mang số vụ 447/22.

- Tiếp tục giao cơ quan thi hành án huyện Cđăng thông báo tìm chủ sở hữu theo quy định đối với 01 xe gắn máy biển số 51X7-7699, số khung TDCC074115008910, số máy: VTTJL1P50FMG008910 trong thời hạn 03 tháng, trường hợp không có người chủ sở hữu đến nhận thì tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số Imeil 353163118119873.

(theo pbị cáo H nhập kho vật chứng số 103/PNK ngày 27/6/2022 và pbị cáo H nhập kho vật chứng số 67/PNK ngày 11/5/2022)

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm, nộp tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ