vanban.org

Bản án 267/2022/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 27/06/2022 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/06/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

T

CỘ G

XÃ ỘI C Ủ G Ĩ VIỆT M

TỈ ĐỒ G T P

Độc lập - Tự do - ạnh phúc Bản án số: 267/2022/DS-PT

Ngày: 27-6-2022 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

ƯỚC CỘ G

XÃ ỘI C Ủ G Ĩ VIỆT M

TÒA

TỈ ĐỒ G T P

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ng c Vạng.

Các Thẩm phán:

Ông Sỹ Danh Đạt;

Bà Huỳnh Kim Oanh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Quốc - Thư ký Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Bà Nguyễn Bạch Nga - Ki m sát vi n tham gia phiên tòa.

Trong các ngày 11/5, 14/6 và 27/6/2022 tại trụ s Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 267/2021/TLPT-DS ngày 16 tháng 12 năm 2021, về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 62/2021/DS-ST ngày 08/11/2021 của Tòa án nhân dân thành phố C bị kháng cáo, kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 61/2022/QĐ-PT ngày 28 tháng 02 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguy n đơn:

1.1. Bà L Thị B, sinh năm 1951; địa ch : Tổ S, ấp H, xã T, thành phố C, t nh Đ ng Tháp. (Có mặt ngày 14/6, 27/6/2022)

1.2. Bà L Thị T, sinh năm 1964; địa ch : ấp A, xã Đ, huyện V, t nh Đ ng Tháp. (Có mặt ngày 14/6, 27/6/2022)

1.3. Bà L Thị N, sinh năm 1966; địa ch : Ấp B, xã B, huyện C, t nh Đ ng Tháp. (Có mặt ngày 14/6, 27/6/2022)

Đại diện theo ủy quyền của bà B, bà T, bà N: Chị Nguyễn Thị Như Y, sinh năm 1994; địa ch : phường M, thành phố C, t nh Đ ng Tháp. (Có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà B, bà T, bà N: Luật sư Phạm Hoàng Đ, Công ty Luật hợp danh A – Chi nhánh Đ ng Tháp - Thuộc Đoàn Luật sư t nh Đ ng Tháp; địa ch : phường M, thành phố C, t nh Đ ng Tháp. (Có mặt)

2. Bị đơn: Ông L Văn P, sinh năm 1963; địa ch : ấp C, xã T, thành phố C, t nh Đ ng Tháp.

Đại diện theo ủy quyền của ông P: Bà Võ Thị N, sinh năm 1957; địa ch : Khóm H, Phường B, thành phố C, t nh Đ ng Tháp. (Có mặt ngày 11/5, 14/6; xin vắng 27/6/2022).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan:

3.1. Bà Ngô Thị Thanh T, sinh năm 1962

3.2. Chị L Thị Trúc G, sinh năm 1988

3.3. Anh L Tuấn V, sinh năm 1993

Cùng địa ch : ấp C, xã T, thành phố C, t nh Đ ng Tháp.

Đại diện theo ủy quyền của bà T, chị G, anh V: Bà Võ Thị N, sinh năm 1957; địa ch : Khóm H, Phường B, thành phố C, t nh Đ ng Tháp.

3.4. Bà L Thị N, sinh năm 1950

Đại diện theo ủy quyền của bà N: Anh Đặng Phước H, sinh năm 1987; Cùng địa ch : ấp H, xã A, thành phố C, t nh Đ ng Tháp. (Vắng mặt)

3.5. Ông L Văn L, sinh năm 1958; địa ch : ấp C, xã T, thành phố C, t nh Đ ng Tháp. (Chết ngày 16/12/2018)

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông L Văn L:

3.5.1. Anh Lê Hoàng H, sinh năm 1983 (Có mặt)

3.5.2. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1954

Cùng địa ch : ấp C, xã T, thành phố C, t nh Đ ng Tháp.

3.5.3. Anh Lê Hoài H, sinh năm 1985; địa ch : ấp C, xã T, thành phố C, t nh Đ ng Tháp.

Địa ch li n lạc: Ấp M, xã H, huyện Đ, t nh Long An.

Đại diện theo ủy quyền của bà T, anh H: Anh Lê Hoàng H, sinh năm 1983; địa ch : ấp C, xã T, thành phố C, t nh Đ ng Tháp.

3.5.4. Anh L Văn C, sinh năm 1978; địa ch : ấp H, xã T, thành phố C, t nh Đ ng Tháp. (Vắng mặt)

Địa ch li n lạc: Ấp A, xã N, huyện Đ, t nh Long An.

3.5.5. Anh L Văn Đ, sinh năm 1981; địa ch : ấp C, xã T, thành phố C, t nh Đ ng Tháp. (Vắng mặt)

Địa ch li n lạc: ấp M, xã X, huyện H, Thành phố H Chí Minh.

3.5.6. Chị L Thị Kim S, sinh năm 1977; địa ch : Ấp A, xã N, huyện Đ, t nh Long An. (Vắng mặt)

Địa ch li n lạc: Chiba-K, FuttSu-S, O Grand Meer M A (Nhật Bản).

3.6. Bà L Thị M, sinh năm 1956; địa ch : ấp H, xã T, thành phố C, t nh Đ ng Tháp. (Vắng mặt)

3.7. Ông L Văn H, sinh năm 1961; địa ch : ấp H, xã A, thành phố C, t nh Đ ng Tháp. (Có mặt)

3.8. Ủy ban nhân dân thành phố C, t nh Đ ng Tháp.

Địa ch : Phường M, thành phố C, t nh Đ ng Tháp.

Đại diện theo pháp luật: Ông Võ Phan Thành M – Chức vụ: Chủ tịch. (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

4. Người kháng cáo:

Bà L Thị B – là nguy n đơn.

Bà L Thị T - là nguy n đơn.

Bà L Thị N - là nguy n đơn.

5. Kháng nghị: Viện trư ng Viện ki m sát nhân dân thành phố C, t nh Đ ng Tháp.

ỘI U G VỤ :

- Nguyên đơn bà Lê Thị B, bà Lê Thị N và bà Lê Thị T (có người đại diện hợp pháp là chị Nguyễn Thị Như Y) trình bày: Vợ ch ng ông L Văn T (chết năm 1987) và bà Phan Thị A (chết năm 1996) có 08 người con g m: Lê Thị N, Lê Thị B, L Văn L (chết năm 2018), Lê Thị M, L Văn H (Sáu M), Lê Văn P (Bảy N), Lê Thị T và Lê Thị N. Ngoài ra, ông T còn có 04 người con của dòng lớn trong đó có ông L Văn Đ (chết năm 2020), L Văn N, ông Trần Văn T (ông T được ông T cho người khác nuôi nên mang h khác), ông Lê Văn B (chết năm nào không biết).

Khi còn sống, ông T và bà A có tạo lập được các phần đất sau:

1. Phần đất tại rạch L mới giáp ng n Cái T thuộc tổ M, ấp H, xã A, Tp. C, Đ ng Tháp với diện tích khoảng 15.000m2, tr n đất có nhà của ông H.

2. Phần đất diện tích khoảng 7.500m2 tại rạch Bà Đ thuộc ấp H, xã A, Tp. C, Đ ng Tháp.

3. Phần đất diện tích khoảng 2.000m2tại ấp C, xã T, Tp. C, Đ ng Tháp.

Năm 1987, ông T chết, bà A tiếp tục quản lý sử dụng đất. Năm 1996 bà A chết (bà A chết ngày 06/01/1996 (âm lịch), giấy chứng tử ngày 15/4/1996). Khi ông T, bà A còn sống có lập di chúc đ chia đất cho con vào năm 1984 và có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã T, trong đó có chia đất cho các con gái mỗi người một công, việc này Bà B, bà T, bà N ch nghe ông H nói lại chứ nội dung di chúc chia đất như thế nào thì bà B, bà T, bà N không biết.

Ngày 16/4/1996 (âm lịch), là 100 ngày chết của bà A, các dì, anh, em g m: sáu N, tư Luông, sáu M (H), bảy N (P), hai N, ba B, năm M, tám T, N và người láng giềng là ông S, ông H cùng h p lại lập “Tờ di chúc ngôn hợp gia tộc” đ phân chia đất cho các anh em theo tinh thần nội dung di chúc mà ông T và bà A đã lập vào năm 1984. Nội dung phân chia đất như sau:

- Phần đất tại rạch Bà Đ (giáp ông Năm P) chia cho ông L Văn L canh tác một nửa, phần còn lại chia cho 03 người con gái, g m: Lê Thị N, Lê Thị M, Lê Thị T mỗi người hư ng 01 công.

- Phần đất tại rạch L mới từ nhà sáu M tr qua giáp với sáu N được chia thành 02 phần, phần ông M từ mí nhà đo ra, phân nửa còn lại của ông bảy N (P). Riêng phần ông H được chia thì chia lại cho bà B và bà N mỗi người 01 công.

Phần đất 01 công được chia là công tầm lớn tương đương 1.296m2.

Phần đất ấp C, xã T không có nhắc tới trong di chúc chúc ngôn h p gia tộc.

Khi lập xong Tờ di chúc ngôn h p gia tộc, ông P xé tờ di chúc của ông T, bà A lập vào năm 1984 n n bà B, bà T, bà N cũng không thấy được tờ di chúc và không biết nội dung di chúc và hiện tại tờ di chúc cũng không còn. Sau khi lập tờ di chúc ngôn, cùng ngày, ông H cùng các anh em ra đo đất, cắm ranh và giao đất cho bà B và bà T, bà N.

Sau khi nhận đất vào cuối năm 1996, bà B, bà N và bà T canh tác đất vài năm (việc canh tác có những người giáp ranh là ông Đỗ Văn S, bà Nguyễn Thị N, ông Đỗ Văn B, ông Đỗ Văn H và bà Lê Thị N biết và chứng kiến). Năm 1997, bà B và bà T, bà N cho ông P mượn đất đ canh tác và ông P đã tự đăng ký quyền sử dụng đất cho ông đứng tên mà không thông qua ý kiến của bà B, bà N, bà T. H sơ k khai đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông P ghi không phù hợp, thời đi m ông P được cho đất không phải năm 1974 như ông P trình bày.

Từ năm 2000 đến năm 2014 bà B, bà N và bà T đã nhiều lần đề nghị ông P trả lại đất nhưng ông P không đ ng ý. Tại buổi hòa giải của Ủy ban nhân dân xã A ngày 10/4/2015, ông P đ ng ý trả giá trị bằng tiền theo giá Nhà nước quy định nhưng bà B, bà N, bà T không đ ng ý và yêu cầu ông P trả đất theo Tờ di chúc ngôn h p gia tộc ngày 16/4/1996 nên hòa giải không thành.

Nay, bà L Thị B, bà L Thị N và bà L Thị T y u cầu Tòa án giải quyết như sau:

Bà L Thị B y u cầu hộ ông P, g m: ông L Văn P, bà Ngô Thị Thanh T, chị L Thị Trúc G và anh L Tuấn V trả lại cho bà L Thị B phần đất có diện tích 1.295,7m2 trong phạm vi các mốc 3, 4, 9, 8,10,11 đến mốc 3 theo sơ đ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C, đất thuộc một phần thửa 129, tờ bản đ số 18, t a lạc tại tổ M, ấp H, xã A, thành phố C, t nh Đ ng Tháp.

Bà L Thị N y u cầu hộ ông P, g m: ông L Văn P, bà Ngô Thị Thanh T, chị L Thị Trúc G và anh L Tuấn V trả lại cho bà L Thị N phần đất diện tích 1.270,5m2 trong phạm vi các mốc 4, 5, 6, 7, 8, 9 đến mốc 4 theo sơ đ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C, đất thuộc một phần thửa 129, tờ bản đ số 18, t a lạc tại tổ M, ấp H, xã A, thành phố C, t nh Đ ng Tháp.

Bà L Thị T y u cầu hộ ông P, g m: ông L Văn P, bà Ngô Thị Thanh T, chị L Thị Trúc G và anh L Tuấn V trả lại cho bà L Thị T phần đất diện tích 1.240,4m2 trong phạm vi các mốc 1, 2, A, B, 3, 6 đến mốc 1 theo Sơ đ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C, đất thuộc một phần thửa 247, tờ bản đ số 18, t a lạc tại xã A, thành phố C, t nh Đ ng Tháp.

Bà L Thị B và bà L Thị N y u cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông L Văn P tại thửa 129, tờ bản đ số 18, đất t a lạc tại xã A, thành phố C, t nh Đ ng Tháp đối với phần đất mà bà B, bà N y u cầu.

Bà L Thị T y u cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông L Văn P tại thửa 247, tờ bản đ số 18, đất t a lạc tại xã A, thành phố C, t nh Đ ng Tháp đối với phần đất mà bà T y u cầu.

Đối với cây tr ng tr n đất đang tranh chấp bà B, bà T, bà N (có chị Như Y là người đại diện hợp pháp) trình bày: Thống nhất cây các cây tr ng có tr n phần đất đang tranh chấp theo bi n bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 28/5/2020 của Tòa án, thống nhất sơ đ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C, thống nhất bi n bản định giá ngày 11/6/2020 của Tòa án thành phố C. Bà B, bà T, bà N đ ng ý trả giá trị cho hộ ông P toàn bộ cây tr ng tr n phần đất tranh chấp theo giá của Hội đ ng định giá ngày 11/6/2020.

- Bị đơn ông Lê Văn P có người đại diện hợp pháp là bà Võ Thị N trình bày: Cha ông P là ông L Văn T (chết năm 1987); mẹ ông P là bà Phạm Thị A (chết năm 1996), cha mẹ ông P có 08 người con như lời trình bày của các nguy n đơn, ông P là em của bà B, anh của bà T và bà N.

Lúc sinh thời, ông T và bà A có tạo lập được khoảng 21.000m2 đất ruộng, đất t a lạc tại xã A, thành phố C, t nh Đ ng Tháp. Thửa Lộ M khoảng 15.000m2, thửa rạch Bà Đ khoảng 7.500m2.

Ông P có nghe ông T, bà A nói lại có cho ông L Văn L phần đất khoảng 6.200m2 (đất lúa) tại rạch Bà Đ vào khoảng năm 1979 (phần này ông L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 248, tờ bản đ số 18, diện tích 6.366m2.

Năm 1991, bà A có cho ông L Văn H(Sáu M) phần đất diện tích khoảng 6.000m2 (đất lúa), ông H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1998, diện tích 6.200m2, đất tại Lộ M (giáp thửa đất 129 mà bà B và bà N đang tranh chấp). Phần đất ông P được cho tổng th khoảng 9.000m2 bao g m cả phần đất Lộ M và 1 công đất rạch Bà Đ vì ông P là con trai út trong gia đình, được cho nhiều hơn đ thờ cúng ông bà.

Năm 1993, ông P nhận chuy n nhượng của ông L Văn Đ (là anh em cùng cha, khác mẹ với ông P) phần đất diện tích khoảng 1.300m2, đất rạch Bà Đ và nhận chuy n nhượng của ông M phần đất khoảng 2.000m2 đất Lộ M A.

Năm 1995, ông P đi k khai, đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 17/12/1996, ông P được Ủy ban nhân dân thị xã C (nay là thành phố C) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tổng diện tích là 13.879m2 bao g m: Thửa 790 diện tích 5.000m2 (đất lúa); thửa 487 diện tích 6.879m2 (đất lúa); thửa 489 diện tích 2.000m2 (đất tr ng cây lâu năm), cùng tờ bản đ số 2.

Năm 2000, ông P chuy n đổi canh tác lúa sang làm vườn (l n liếp tr ng xoài, cóc và các loại cây tr ng khác). Đến ngày 05/6/2014, hộ ông P làm thủ tục xin cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Ủy ban nhân dân thành phố C cấp đổi giấy chứng nhận cho hộ ông P như sau:

- Thửa 790 diện tích 5.000m2 (đất lúa) tương ứng thành thửa 247 diện tích 2.926m2; (phần đất này là ông P chuy n nhượng của ông Đang và bà A cho ông P 1.000m2) (phần đất này rạch Bà Đ, bà T đang tranh chấp).

- Thửa 487 diện tích 6.879m2 (đất lúa) tương ứng thửa 129 diện tích 7.151,1m2 (đất chuy n tr ng lúa nước) (phần đất này Lộ M, là đất bà B, bà T đang tranh chấp).

- Thửa 149, tờ bản đ số 18, diện tích 3.089,5m2 (đất tr ng cây lâu năm) (phần đất này bao g m phần đất ông P nhận chuy n nhượng của ông Mi n, diện tích 2.000m2 và đất bà A cho ông P 1.000m2. Vị trí đất t a lạc tại Lộ M, ấp H, phần này không tranh chấp.

Tổng diện tích ông P được cấp đổi tại 03 thửa 129, 247, 149 là 13.167,8m2 (trừ 3.800m2 đất ông P chuy n nhượng của ông Đ và ông M), còn lại diện tích 9.367,8m2.

Ngày 20/10/2014, Ủy ban nhân dân thành phố C ban hành Quyết định 121, thu h i một phần diện tích đất của Phước 282,8m2, trong đó một phần thửa 149 có diện tích là 151,1m2; một phần thửa 129 có diện tích là 131,7m2. Số tiền b i thường tổng số tiền là 80.000.000đ ng.

Đối với “tờ di chúc ngôn hợp gia tộc” ngày 16/4/1996 (âm lịch), sau khi bà A chết được 100 ngày thì ông H có h p các anh em lại đ ông H (sáu M) thực hiện việc chia đất. Về thành phần h p đ chia đất như nguy n đơn trình bày, ông P có ký t n vào tờ di chúc ngôn nhưng ông P không có xem lại nội dung tờ chúc ngôn.

Theo nội dung tờ di chúc ngôn hợp gia tộc ngày 16/4/1996, ông P không có nghĩa vụ chia đất cho ai, ch do ông H cho lại đất cho những người con gái là bà B và bà N. Phần của bà T có được ghi nhận nhưng bà T không có ký t n, không có chia đất cho bà T tr n thực tế.

Phần đất ông P được cho từ năm 1993, ông P sử dụng ổn định, đóng thuế từ năm 1993, k khai, đăng ký quyền sử dụng đất và được cấp lần đầu vào năm 1996, và cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2014, không có ai tranh chấp. Ông P không có mượn đất của bà B, bà T, bà N canh tác nên ông P không đ ng ý giao trả đất theo y u cầu của bà B, bà T, bà N.

Ông P thống nhất cây các cây tr ng có tr n phần đất đang tranh chấp theo bi n bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 28/5/2020 của Tòa án, thống nhất Sơ đ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C ngày 28/5/2020, thống nhất bi n bản định giá ngày 11/6/2020 của Tòa án thành phố C. Các cây tr ng tr n diện tích đất tranh chấp với bà B, bà T, bà N là do gia đình ông P tr ng. Ông P không đ ng ý toàn bộ y u cầu kh i kiện của bà B, bà T, bà N.

- Bà Ngô Thị Thanh T, chị Lê Thị Trúc G, anh Lê Tuấn V (có bà N là người đại diện theo ủy quyền)trình bày: Thống nhất lời trình bày của ông P nêu trên. Bà T, chị G, anh V không đ ng ý toàn bộ y u cầu của bà B, bà T, bà N. Bà T, chị G, anh V thống nhất các cây tr ng có tr n phần đất đang tranh chấp theo bi n bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 28/5/2020 của Tòa án, thống nhất sơ đ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C ngày 28/5/2020, thống nhất bi n bản định giá ngày 11/6/2020 của Tòa án thành phố C.

- Ông Lê Văn Htrình bày: Vợ ch ng ông L Văn T, sinh năm 1913 (chết năm 1987) và bà Phan Thị A, sinh năm 1923 (chết năm 1996) có 08 người con g m: L Thị N, L Thị B, L Văn L (chết năm 2018), L Thị M, L Văn H(sáu M), L Văn P (Bảy N), L Thị T và L Thị N.

Khi còn sống, ông T và bà A có tạo lập được các thửa đất như sau:

1. Thửa đất gắn liền với nhà có tổng diện tích 778,9 m2 t a lạc tại ấp C, xã T, thành phố C. Hiện tại thửa số 140 tờ bản đ số 20, loại đất thổ, do ông L Văn P đang đứng t n giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ông P đang sử dụng (phần đất này gia đình ông L đang ).

2. Phần đất có diện tích khoảng 125,5m2, thửa 139, tờ bản số 20, đất t a lạc tại ấp C, xã T, thành phố C, t nh Đ ng Tháp. Hiện tại do ông P đứng t n quyền sử dụng đất (hộ ông L Văn L đang cất nhà đ quản lý, sử dụng).

3. Thửa đất tại rạch Lộ M giáp ng n Cái T thuộc tổ M, ấp H, xã A, thành phố C, t nh Đ ng Tháp (giáp ấp Tân D), không biết diện tích bao nhi u, có căn nhà của ông H.

4. Thửa tại rạch Bà Đ thuộc ấp H, xã A, thành phố C, t nh Đ ng Tháp có khoảng 9 công tầm lớn, không biết diện tích cụ th bao nhi u.

Sau khi bà A chết, ngày 16/4/1996 (âm lịch), ngày kỷ niệm của ông bà cha mẹ, các anh em h p lại lập tờ chúc ngôn hợp gia tộc, ông H phân chia lại đất đã được cha mẹ cho tr n trước đo cơ s di chúc của cha mẹ lập vào năm 1984, cụ th như sau:

Phần đất rạch Bà Đ (giáp ông năm P) chia cho ông L Văn L canh tác một nửa (tầm 4,5 công tầm lớn), phần còn lại của Rạch Bà Đ chia cho ba người con gái, g m có L Thị N, L Thị M, L Thị T mỗi người hư ng 01 công.

Phần đất Lộ M được chia theo tờ chúc ngôn như sau: Phần đất từ nhà sáu M tr qua giáp với sáu N được chia thành 02 phần, phần ông M (H) từ mí nhà đo ra, phân nửa còn lại chia cho ông Bảy N (P). Ri ng phần của ông H được chia thì chia lại cho bà B và bà N mỗi người 01 công.

Phần đất 01 công theo tờ chúc ngôn là công tầm lớn, tương đương 1.296m2.

Đối với phần đất bà B, bà N đang tranh chấp: Năm 1996, sau khi h p gia tộc, ông H và ông P có mời địa chính là ông M (hiện tại đã bỏ địa phương đi nhiều năm) đến đo đạc, cắm mốc và ông H giao đất cho bà B, bà N. Sau khi ông H chia đất cho bà B, bà N canh tác lúa được vài mùa.

Năm 1997, bà B, N mới k u ông H đ cho ông H mượn đ canh tác vì hoàn cảnh gia đình bà B và bà N xa, không tiện canh tác. Ông H đ ng ý nhưng ông H chưa thực hiện canh tác đất thì ông P có hỏi ông H đ mượn đất của bà B, bà N canh tác, ông H nói với ông P đến gặp bà B và bà N đ hỏi mượn vì phần đất này ông H đã chia cho bà B và bà N. Ông P có đến gặp bà B và bà N hay không thì ông H không biết. Ông P đăng ký xin cấp quyền sử dụng đất thì ông H không biết.

Ông H khẳng định lúc ông T và bà A còn sống thì có lập tờ di chúc vào năm 1984, có xác nhận của Ủy ban xã. Tờ di chúc thì ông T, bà A đ trong nhà, ông P về nhà và giữ tờ di chúc. Trước khi ông T chết, toàn bộ đất do ông H canh tác toàn bộ, k cả đất của ông L. Sau khi ông T chết thì ông H giao lại phần đất mà ông T được cho ông L theo di chúc đ ông L canh tác. Nội dung của tờ di chúc là cha mẹ đ lại cho các con trai nhiều đất, con gái đ ít hơn cụ th con gái mỗi người 01 công, còn bao nhi u thì giao cho những người con trai được hư ng. N n ngày 19/6/1996 (âm lịch) là 100 ngày sau ngày mất của bà A, các anh em h p lại đ lập tờ di chúc ngôn h p gia tộc chia đất cho các các thừa kế theo tờ di chúc của ông T, bà A. Tờ di chúc ngôn hợp gia tộc do Đặng Thị D (con của bà N viết). Sau khi lập tờ di chúc ngôn hợp gia tộc thì các anh em thống nhất, đ ng ý ký t n và tiến hành đo đạc, chia đất, cắm trụ, giao đất. sau khi h p gia tộc thì ông P xé tờ di chúc của ông T và bà A.

Ông H xác định ông H không tranh chấp gì với ông P, phần đất ông H được hư ng thì ông H đã giao đất cho bà B, bà N trực tiếp canh tác. N n việc bà B, bà N tranh chấp với ông P thì ông H không có ý kiến, ông H không tranh chấp với ông P.

Đối với phần đất của đất chia cho bà T theo tờ di chúc ngôn h p gia tộc thì trước khi h p gia tộc thì ông H canh tác, sau khi h p gia tộc thì ông H giao lại cho bà T canh tác. Việc bà T cho ông P mượn đất canh tác thì ông H không biết.

Ông H xác định ông H không tranh chấp gì đối với phần đất đã chia cho bà T, bà B, bà N, không có y u cầu gì trong vụ án này.

- Bà Lê Thị N (có anh Đặng Phước H là người đại diện theo ủy quyền) trình bày: Bà L Thị N là con cả của ông T và bà A, là chị của ông P, bà B, ông L, bà M, bà T, bà N, ông H.

Khi còn sống, ông T, bà A có tạo lập được phần đất khoảng 21.000m2 phần đất Lộ M và rạch Bà Đ. Phần đất của ông T, bà A chia cho ba người con trai, không chia cho gái.

Ông T chết năm 1987, bà A chết năm 1996, đến ngày làm thất của bà A thì ông H có lập tờ di chúc ngôn h p gia tộc ngày 16/4/1996 đ chia đất cho 05 người con gái bao g m N, M, B, T, N, mỗi người được 01 công nhưng thực tế phần đất không có đ chia vì không còn quyền sử dụng đất nào của ông T và bà A đ chia theo tờ di chúc ngôn của ông H lập vì thời đi m này, đất đã chia cho các anh em canh tác trước đó.

Bà N không nghe ông H đ c lại tờ di chúc ngôn nhưng nghe ông H nói là chia đất cho 05 người con gái, bà N có ký tên vào. Bà N cũng không biết phần đất bà N được chia theo tờ di chúc ngôn.

Đối với phần đất bà N đang canh tác, do ông Đặng H ng R là ch ng bà N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1996, đến năm 2015 xin cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phần đất này có ngu n gốc là của bà A và ông T. Năm 1984, ông T và bà A cất nhà thiếu tiền n n bà A có mượn của gia đình bà N 05 ch vàng 24kra. Năm 1987, ông T chết, bà A giao cho bà N phần đất rạch Bà Đ có diện tích khoảng 2.000m2 đ canh tác trừ vào 05 ch vàng mượn của gia đình bà N trước đó. Bà N nhận phần đất và canh tác từ năm 1987, chứ thực tế bà N không có được bà A và ông T cho đất.

Đối với phần đất bà B, bà T, bà N đang tranh chấp với ông P, bà N không có ý kiến, không tranh chấp gì.

- Anh Lê Hoàng H (là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông L, đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bà T, anh H) trình bày: Ông T, bà A là ông, bà nội của anh H, sau khi ông T chết, bà A có cho ông L Văn L một phần đất khoảng 4,5 công (công 12), đất lúa, vị trí đất ông L được cho nằm rạch Bà Đ, giáp với phần đất bà N, ông L nhận đất, canh tác và được cấp quyền sử dụng diện tích khoảng 6.300m2. Phần đất này khi ông L còn sống đã chuy n nhượng cho người khác cách đây khoảng 7 – 8 năm n n cũng không còn. Ông L chết ngày 16/12/2018.

Phần đất gia đình ông L bao g m bà T và các con của ông L đang hiện hay do ông P đứng t n giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Không li n quan đến phần đất của bà B, bà T, bà N đang tranh chấp với ông P. Anh H không tranh chấp gì với ông P.

Đối với di chúc ngôn h p gia tộc ngày 16/4/1996 thì anh H không biết. Ch nghe các cô chú bác nói lại, chứ không biết cụ th như thế nào. Anh H không có ý kiến gì đối với việc bà B, bà T, bà N tranh chấp với ông P.

- Chị L Thị Kim S có văn bản th hiện ý kiến không tranh chấp cũng không có y u cầu gì trong vụ án.

- Ủy ban nhân dân thành phố C có văn bản đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

Bà L Thị M vắng mặt, không tham gia tố tụng mặc dù Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà M theo thủ tục luật định.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn phát biểu: Căn cứ vào lời trình bày của các đương sự tại phi n tòa th hiện: Các đương sự đều thừa nhận đất đang tranh chấp có ngu n gốc là của cha mẹ của nguy n đơn, bị đơn là ông T, bà A tạo lập. Năm 1984, cha mẹ của các đương sự có lập di chúc đ chia đất cho các con, có xác nhận của xã T. Năm 1987, ông T chết, năm 1996, bà A chết. Ngày 16/4/1996, các anh em có h p lại đ lập tờ di chúc ngôn h p gia tộc chia tài sản chung của cha mẹ đ lại theo tinh thần của tờ di chúc mà ông T, bà A đã lập trước đó. Theo đó, các con gái được chia ít hơn, bà B, bà T, bà N được chia một công và đã nhận đất canh tác được vài năm, việc này có những người sử dụng đất liền kề xác nhận như ông B, bà N.... Sau khi chia đất, ông P đã xé tờ di chúc (điều này được ông P thừa nhận tại phi n tòa ngày 30/5/2016). Như vậy, mặc dù tờ di chúc hiện nay không còn nhưng việc chia đất cho các anh em cũng đã được th hiện qua tờ di chúc ngôn hợp gia tộc ngày 16/4/1996 và các nguy n đơn bà B, bà T, bà N đã được chia đất và sử dụng đất. Tuy nhi n, do không có điều kiện canh tác n n các nguy n đơn sử dụng đất đến năm 1997 thì có cho ông P mượn lại đất đ canh tác. Do nghĩ là anh chị em trong nhà n n không đi k khai, đăng ký xin cấp quyền sử dụng đất. Đến năm 2015, các đ ng nguy n đơn y u cầu ông P trả nhưng ông P không đ ng ý. Như vậy, từ nội dung tờ di chúc ngôm h p gia tộc đã cho thấy việc các anh, chị, em thống nhất chia đất cho các nguy n đơn bà B, bà T, bà N là sự thật. B n cạnh đó, tại bi n bản hòa giải ngày 10/4/2015, ông P cũng đã đ ng ý trả giá trị đất lại cho bà B, bà T, bà N đối với phần đất đang tranh chấp nhưng các đ ng nguy n đơn không đ ng ý. Điều này chứng minh ông P cũng thừa nhận đất ông canh tác là có một phần của bà B, bà T, bà N được chia theo tờ di chúc ngôn h p gia tộc ngày 16/4/1996 n n mới th hiện ý chí đ ng ý trả lại giá trị đất cho các nguy n đơn tại bi n bản n u tr n.

Mặt khác, đối với nội dung xác định diện tích đang tranh chấp là 01 (một công) có diện tích là 1.296m2 hay 1.000m2, trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn có y u cầu Tòa án xác định 1 công với diện tích là 1.000m2, không đ ng ý theo y u cầu của nguy n đơn. Điều này th hiện ông P đã thừa nhận có mượn đất và ch đ ng ý trả lại 1 công với diện tích 1.000m2 cho các đ ng nguy n đơn chứ không phải theo diện tích nguy n đơn y u cầu.

Do đó, căn cứ và các liệu, chứng cứ n u tr n, đề nghị Hội đ ng xét xử chấp nhận y u cầu kh i kiện của nguy n đơn. Nguy n đơn đ ng ý trả lại giá trị cây tr ng tr n đất tranh chấp cho bị đơn theo giá của Hội đ ng định giá đã định.

- Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố C đã quyết định:

Không chấp nhận y u cầu của bà L Thị B về việc y u cầu hộ ông P, g m: ông L Văn P, bà Ngô Thị Thanh T, chị L Thị Trúc G và anh L Tuấn V trả lại cho bà L Thị B phần đất có diện tích 1.295,7m2, thuộc một phần thửa 129, tờ bản đ số 18, trong phạm vi các mốc 3, 4, 9, 8,10,11 đến mốc 3 (theo sơ đ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C) và yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất có diện tích 1.295,7m2, thuộc một phần thửa 129, tờ bản đ số 18, đất t a lạc tại xã A, thành phố C, t nh Đ ng Tháp do hộ ông L Văn P đang đứng t n giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Không chấp nhận y u cầu của bà L Thị N về việc y u cầu hộ ông P, g m: ông L Văn P, bà Ngô Thị Thanh T, chị L Thị Trúc G và anh L Tuấn V trả lại cho bà L Thị N phần đất có diện tích 1.270,5m2, thuộc một phần thửa 129, tờ bản đ số 18, trong phạm vi các mốc 4, 5, 6, 7, 8, 9 đến mốc 4 (theo sơ đ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C) và y u cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất có diện tích 1.270,5m2, thuộc một phần thửa 129, tờ bản đ số 18, đất t a lạc tại xã A, thành phố C, t nh Đ ng Tháp do hộ ông L Văn P đang đứng t n giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Không chấp nhận y u cầu của bà L Thị T về việc y u cầu hộ ông P, g m: ông L Văn P, bà Ngô Thị Thanh T, chị L Thị Trúc G và anh L Tuấn V trả lại cho bà L Thị T phần đất diện tích 1.240,4m2, thuộc một phần thửa 247, tờ bản đ số 18, trong phạm vi các mốc 1, 2, A, B, 3, 6 đến mốc 1 (theo sơ đ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C) và yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất có diện tích 1.240,4m2, thuộc một phần thửa 247, tờ bản đ số 18, t a lạc tại xã A, thành phố C, t nh Đ ng Tháp.

Hộ ông L Văn P được tiếp tục sử dụng phần đất và các cây tr ng có tr n phần đất thuộc thửa 129 và thửa 247, tờ bản đ số 18, đất t a lạc tại xã A, thành phố C, t nh Đ ng Tháp. (Đất và toàn bộ cây tr ng tr n đất hiện tại do hộ ông L Văn P đang sử dụng và đứng t n giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).

(kèm theo sơ đ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C, theo bi n bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 28/5/2020 của Tòa án nhân thành phố C).

Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà L Thị B được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

- Bà L Thị N phải chịu 4.764.375 đ ng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.906.000đ ng theo bi n lai thu số 0005031 ngày 12 tháng 8 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố C. Bà L Thị N còn phải nộp tiếp 2.858.375 đ ng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

- Bà L Thị T phải chịu 4.651.500 đ ng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.706.000đ ng theo bi n lai thu số 0005032 ngày 12 tháng 8 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố C. Bà L Thị T còn phải nộp tiếp 2.945.500 đ ng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

- Ông L Văn P, bà Ngô Thị Thanh T, chị L Thị Trúc G, anh L Tuấn V không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Về chi phí tố tụng khác:

Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Bà L Thị B, L Thị T, L Thị N phải li n đới chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 1.000.000đ ng. Số tiền này ông L Văn P nộp tạm ứng và chi xong n n bà L Thị B, L Thị T, L Thị N có trách nhiệm li n đới trả lại cho ông L Văn P số tiền là 1.000.000đ ng.

Chi phí định giá tài sản: Bà L Thị B, L Thị T, L Thị N phải li n đới chịu chi phí định là 600.000 đ ng. Số tiền này bà B, bà T, bà N đã nộp tạm ứng và chi xong.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuy n về quyền và thời hạn kháng cáo của các đương sự, quyền và nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án, thời hiệu thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.

- Ngày 15/11/2021, bà L Thị N kháng cáo y u cầu ông P, bà T, chị G, anh V trả lại cho bà N phần đất diện tích 1.270,5m2.

Bà L Thị T kháng cáo y u cầu hộ ông P, bà T, chị G, anh V trả lại cho bà T phần đất diện tích 1.240,4m2.

Bà L Thị B kháng cáo y u cầu ông P, bà T, chị G, anh V trả lại cho bà B phần đất diện tích 1.295,7m2.

- Viện trư ng Viện ki m sát nhân dân thành phố C kháng nghị hủy bản án sơ thẩm số: 62/2021/DS-ST ngày 08 tháng 11 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố C.

- Tại phi n tòa phúc thẩm:

Chị Y, bà Ba, bà N, bà T trình bày: Y u cầu ông P trả lại 03 phần đất tranh chấp, lý do: Ông P mượn đất và nay có nhu cầu sử dụng n n nhận lại đất.

Bà N đại diện theo ủy quyền của ông P trình bày: Ông P không thừa nhận việc mượn đất n n không đ ng ý theo y u cầu của các nguy n đơn.

Luật sư bảo vệ quyền lợi cho bà B, bà N, bà T đề nghị chấp nhận y u cầu kháng cáo của bà B, bà N, bà T buộc ông P trả đất đã mượn nói tr n.

+ Đại diện Viện ki m sát nhân dân t nh Đ ng Tháp ý kiến về giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến tại phi n tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đ ng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Đề nghị hủy bản án dân sự sơ thẩm.

Sau khi nghi n cứu các tài liệu có trong h sơ vụ án đã được thẩm tra tại phi n tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

Ậ ĐỊ CỦ T

:

1 Việc tranh chấp QSDĐ giữa bà L Thị B, bà L Thị T, bà L Thị N và ông L Văn P, Tòa án nhân dân thành phố C thụ lý giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm là đúng quy định. Kháng cáo Bà L Thị B, bà L Thị T, bà Lê Thị N là hợp lệ. Các nguy n đơn ủy quyền cho chị Nguyễn Thị Như Y, bị đơn ủy quyền cho bà Võ Thị N tham gia tố tụng thủ tục phù hợp n n chấp nhận. Ủy ban nhân dân thành phố C có đơn xin xét xử vắng mặt và những người có quyền lợi nghĩa vụ li n quan được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do n n xét xử theo quy định (trừ ông H, anh H).

2 Bà L Thị B, bà L Thị T, bà L Thị N y u cầu ông L Văn P trả lại đất và đất này có ngu n gốc là của cụ T, cụ A (vợ ch ng). Cụ th : Trả cho bà B diện tích 1.295,7m2 (CLN), bà N 1.270,5m2 (CLN) thuộc một phần thửa 129 tờ bản đ số 18 và trả cho bà T 1.240,4m2 (CLN) thuộc một phần thửa 247 tờ bản đ số 18, giấy chứng nhận cấp cho ông P cùng ngày 05/6/2014, tại xã A, thành phố C, t nh Đ ng Tháp.

Các nguy n đơn trình bày là có nghe ông H nói lại vợ ch ng cụ T có lập di chúc vào năm 1984 chia đất cho mỗi người con gái 01 công. Do đó ngày 14/6/1996 âl, anh em của nguy n đơn, bị đơn lập “tờ di chúc ngôn họp gia tộc” và sau đó ông P xé bỏ tờ di chúc. Việc phân chia đất như sau: Đất tại lộ mới chia cho ông P diện tích; chia cho ông H diện tích, nhưng phần đất ông H được chia thì ông H phải có trách nhiệm chia lại cho bà B 1.296m2, bà N 1.296m2. Đất tại rạch Bà Đ chia cho ông L ½ diện tích và chia cho bà N, bà M, bà T mỗi người 1.296m2.. Đối với đất tại ấp C không có đề cặp phân chia trong “tờ di chúc ngôn họp gia tộc”. Bà T, bà B, bà N đã nhận đất sử dụng đến 1997 cho ông P mượn n n y u cầu trả đất nói tr n. Theo bà N trình bày thì ông H là người có nghĩa vụ giao đất và không thừa nhận việc mượn đất của các nguy n đơn, mà ông P được cha mẹ cho g m: Đất tại lộ mới 8.000m2 và đất tại rạch bà Đ là 1.000m2, trong đó có các phần đất tranh chấp. Đ ng thời, ông P có mua th m đất tại rạch bà Đ 1.300m2 và đất tại lộ mới 2.000m2. Ngày 17/12/1996, ông P được cấp giấy chứng nhận diện tích tổng cộng 13.879m2, sau đó được cấp đổi lại giấy chứng nhận như hiện nay. Do đó không đ ng ý theo yêu cầu của nguy n đơn.

Việc bà B, bà N và bà T cho rằng ông P mượn đất và căn cứ “tờ di chúc ngôn họp gia tộc”đ chứng minh đất tranh chấp là của các nguy n đơn, bà N cũng thừa nhận có phân chia đất vào ngày 14/6/1996 âl, ông P có ký t n đ ng ý vào tờ phân chia đất này. Bà N, ông L, bà Mướt, ông H đều xác nhận các anh em h p mặt lập “tờ di chúc ngôn họp gia tộc” là có thật. Tuy nhi n, cụ T còn có con ri ng là ông Đ, ông N, ông T, ông B nhưng ch có ông N có mặt ký t n trong tờ di chúc ngôn h p gia tộc. Nhận thấy, ngu n gốc đất đương sự đều thừa nhận là của cụ T và cụ A, việc phân chia đất của anh em các nguy n đơn, bị đơn là tự nguyện theo ý chí của các con chung của vợ ch ng cụ T và cụ A, nhưng cần phải đưa ông Đ, N, T, B vào tham gia tố tụng đ làm rõ việc thực hiện thỏa thuận ngày 14/6/1996 âl mới có căn cứ xem xét đúng y u cầu giải quyết vụ án.

[3] Theo“tờ di chúc ngôn họp gia tộc” th hiện việc phân chia như sau:

Đối với đất tại lộ mới vị trí tính từ phần đất giáp đất có nhà của ông H là chia cho ông H, bà B, bà N và phần đất còn lại là của ông P, nhưng tr n thực tế thì vị trí đất của ông H đang quản lý sử dụng toàn bộ phần đất của ông P được chia. Vì vậy cần phải làm rõ vị trí đất của ông H đang sử dụng và chưa thu thập chứng cứ làm rõ giữa ông H, bà B, bà N và ông P đổi đất như thế nào, thỏa thuận quyền nghĩa vụ của các b n, thủ tục chuy n đổi…? Vị trí thứ tự phần đất phân chia của ông H, bà B, bà N, trước khi phân chia người nào đang sử dụng, việc giao nhận đất giữa các b n như thế nào, nguy n nhân vì sao thực hiện không đúng thỏa thuận ...?

Đối với đất tại rạch bà Đ: Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập chứng cứ làm rõ những người hàng thừa kế thứ nhất của cụ T cho ông L, bà T, bà M, bà N vị trí tr n thực tế được phân chia của mỗi người như thế nào. Bà T nhận đất đúng vị trí không và bà N, bà M đã nhận đất chưa.

Qua nội dung tr n cho thấy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định thiếu tư cách đương sự và chưa thu thập đầy đủ chứng cứ, nhưng Tòa án cấp phúc thẩm không th khắc phục được. Vi phạm nghi m tr ng tố tụng dân sự.

4 Đại diện Viện ki m sát T nh đề nghị hủy bản án sơ thẩm như phân tích n u tr n là có cơ s n n chấp nhận.

Vì vậy đ bảo đảm quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định, hủy bản án sơ thẩm chuy n h sơ vụ án về cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại.

[5] Án phí: Bà B, bà N, bà T không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ tr n;

QUYẾT ĐỊ :

Căn cứ vào, khoản 9 Điều 26, Điều 35, khoản 3 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận một phần kháng nghị của số 08/QĐKNPT-VKS-DS ngày 23/11/2021 của Viện ki m sát nhân dân thành phố C, t nh Đ ng Tháp.

Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 62/2021/DS-ST ngày 08/11/2021 của Toà án nhân dân thành phố C, t nh Đ ng Tháp.

Chuy n h sơ vụ án về cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo quy định của pháp luật.

2. Về án phí: Bà B, bà N, bà T không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho bà N, bà T tiền tạm ứng án phí phúc thẩm mỗi người 300.000đ theo bi n lai thu số 0005117 và số 0005118 cùng ngày 15/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố C, t nh Đ ng Tháp.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, y u cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k từ ngày tuy n án./.

Cỡ chữ