- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Phan Thị P. Cho bà Phan Thị P được ly hôn với ông Hồ Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 266/2026/HNGĐ-ST Ngày: 14-9-2026 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Nông Phú.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Tuấn Lam.
Bà Ngô Thị Lệ Nga.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp.
Ngày 14 tháng 9 năm 2026, tại Trụ sở 1 - Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 443/2026/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2026, về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 527/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phan Thị P, sinh ngày 01/01/1973; Địa chỉ: Ấp B, xã T, tỉnh Đồng Tháp; Có đơn xin vắng mặt.
2. Bị đơn: Ông Hồ Văn T, sinh ngày 01/01/1976; Địa chỉ: Ấp G, xã T, tỉnh Đồng Tháp; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 07/7/2026, trong quá trình tiến hành tố tụng, nguyên đơn, bà Phan Thị P, trình bày: Về hôn nhân: Bà và ông Hồ Văn T quen biết và tự đăng ký kết hôn vào ngày 31/12/2010 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H (nay là xã T), tỉnh Đồng Tháp. Trong thời gian sống chung, bà và ông T phát sinh mâu thuẫn, rạn nứt, không có tiếng nói chung dù đã nhiều lần hàn gắn nhưng không thành và sống ly thân từ đầu năm 2025 đến nay. Nay bà yêu cầu ly hôn với ông Hồ Văn T vì tình cảm không còn. Về con chung: Có 01 con chung tên Hồ Khánh D, sinh ngày 04/5/2010, đang sống với bà, bà yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con theo quy định. Về tài sản chung: Không có, nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Trong quá trình tiến hành tố tụng, bị đơn ông Hồ Văn T đã được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án theo đúng quy định nhưng ông T vẫn không có mặt cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Bà Phan Thị P khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Hồ Văn T là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp, quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn bà Phan Thị P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn ông Hồ Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, nên Tòa án tiến hành thủ tục xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Quan hệ hôn nhân giữa bà Phan Thị P và ông Hồ Văn T được pháp luật công nhận, vì có đăng ký kết hôn phù hợp quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Xét, yêu cầu của bà Phan Thị P là có căn cứ để chấp nhận, vì trong quá trình chung sống giữa bà Phan Thị P và ông T có phát sinh mâu thuẫn gia đình. Bà Phan Thị P và ông T không còn sống chung đã lâu vẫn không hàn gắn được. Tòa án đã triệu tập ông T đến tham gia phiên hòa giải và tham gia phiên tòa nhiều lần nhưng ông T đều vắng mặt không có lý do, không thể hiện ý chí muốn đoàn tụ. Điều này cho thấy hôn nhân giữa bà Phan Thị P và ông T không thể hàn gắn được, mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Phan Thị P được ly hôn với ông Hồ Văn T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Bà Phan Thị P yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung là phù hợp nên chấp nhận, vì ông T không có ý kiến về việc nuôi con. Về cấp dưỡng, bà P yêu cầu là có căn cứ, vì ông T không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng, theo quy định tại các Điều 82, 107, 110, 116, 117 và 119 của Luật Hôn nhân và gia đình. Buộc ông T cấp dưỡng nuôi con hàng tháng, mức cấp dưỡng mỗi tháng bằng nửa tháng lương tối thiểu vùng do Nhà nước quy định tại thời điểm thi hành án, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 9 năm 2026 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, có khả năng lao động sinh sống được.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên chưa xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Nguyên đơn bà P phải chịu 300.000đ án phí ly hôn, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp; bà P đã nộp đủ tiền án phí. Buộc ông T phải chịu 300.000đ án phí đối với nghĩa vụ cấp dưỡng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 9, 53, 56, 58, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117 và 119 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Phan Thị P. Cho bà Phan Thị P được ly hôn với ông Hồ Văn T.
2. Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của bà Phan Thị P.
2.1. Bà Phan Thị P được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Hồ Khánh D, sinh ngày 04/5/2010.
2.2. Về cấp dưỡng: Buộc ông Hồ Văn T có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con Hồ Khánh D hàng tháng, mức cấp dưỡng mỗi tháng bằng nửa tháng lương tối thiểu vùng do Nhà nước quy định, tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú, tại thời điểm thi hành án, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 9 năm 2026 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, có khả năng lao động sinh sống được.
2.3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
3.1. Bà Phan Thị P chịu 300.000đ án phí ly hôn, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0003337 ngày 09 tháng 3 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp, bà Phan Thị P đã nộp đủ tiền án phí.
3.2. Buộc ông Hồ Văn T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí đối với nghĩa vụ cấp dưỡng.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự đều không có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn mười lăm ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện kiểm sát cùng cấp; - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn, nếu có; - Lưu hồ sơ vụ án, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Nông Phú |