- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn T - Tảng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI -------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 266/2024/HS - ST Ngày: 25/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Các Hội thẩm nhân dân :
1. Ông Lương Anh Dũng
2. Ông Nguyễn Văn Hành Thư ký phiên tòa:
Ông Bùi Sơn Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Thanh Trì, TP Hà Nội Đại diện VKSND huyện Thanh Trì - TP Hà Nội tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Duy Hùng - Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 12 năm 2024, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 267/2024/HS- ST ngày 02/12/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 267/2024/QĐXXST - HS ngày 12/12/2024 đối với bị cáo:
Phạm Văn T, sinh năm 1975; HKTT: Thôn T, xã Th, huyện C, Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Hồng V và bà Nguyễn Thị T; Có vợ là Lê Thị Diệu H ; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 20/9/2007, Tòa án nhân dân quận T, thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy – đã xóa án tích; Ngày 21/02/2012, Tòa án nhân dân quận T, Hà Nội xử phạt 30 tháng tù tội Tàng trữ trái phép chất ma túy – đã xóa án tích (Danh chỉ bản số 590 do Công an huyện T lập ngày 27/9/2024); Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/9/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố Hà Nội – có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 8 giờ 00 phút ngày 24/9/2024, Phạm Văn T đi bộ đến khu vực nghĩa trang thôn Y, xã T, T, Hà Nội gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy với giá 200.000đồng. T cầm ma túy trong lòng bàn tay trái để đi tìm nơi sử dụng. Khi đến khu vực cuối ngõ 21 thôn Y, xã T, huyện T, Hà Nội thì bị tổ công tác công an xã T tiến hành kiểm tra hành chính. T tự nguyện giao nộp 01 gói nilon bên trong có gói giấy màu trắng. Tại chỗ, T khai nhận đó là ma túy Heroine T mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản, thu giữ tang vật và đưa T về trụ sở Công an để làm việc.
Kết quả xét nghiệm ma túy trong cơ thể đối với T cho kết quả dương tính.
Tại bản Kết luận giám định số 6974/KL – KTHS ngày 03/10/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an thành phố kết luận: chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu trắng (bọc ngoài bằng nilon) là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,184gam.
Tại cơ quan điều tra:
- Phạm Văn T khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
- Đối với số ma túy thu giữ của T tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định pháp luật.
- Đối với người bán ma túy cho T không xác định được nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ.
Bản cáo trạng số 257/CT - VKSTT ngày 28/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
* Bị cáo Phạm Văn T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên, thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố bị cáo là đúng. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo đã thể hiện thái độ ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử :
- Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Bị cáo từ 16 -18 tháng tù.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của bị cáo;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thanh Trì, Điều tra Viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng; Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án – đủ cơ sở kết luận: Hồi 8 giờ 00 ngày 24/9/2024, tại khu vực ngõ 21 thôn Y, xã T, huyện T, Hà Nội, Phạm văn T đang cất giấu tại lòng bàn tay trái 01 túi nilon bên trong chứa 0,184gam ma túy loại Heroine để sử dụng cho bản thân thì bị Tổ công tác công an xã T, Công an huyện T bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố bị cáo ra trước Tòa án để xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ pháp lý.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sự độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy. Ma túy là chất gây nghiện huỷ hoại sức khoẻ con người, làm sói mòn đạo đức xã hội và là nguyên nhân gây ra các tội phạm hình sự khác, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần thiết phải xử lý bằng pháp luật hình sự đối với bị cáo và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo bị cáo và giáo dục phòng ngừa chung cho mọi người.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
- Tình tiết tăng nặng: Không có.
- Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải - tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân bị cáo: Bị cáo có 02 tiền án đã được xóa án tích.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng” . Xét bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định và đang bị tạm giam nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng của vụ án:
- Đối với số ma túy đã thu giữ của bị cáo là chất nhà nước cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy;
- Đối với người bán ma túy cho T không xác định được thông tin, lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ, Hội đồng xét xử không xem xét.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo các điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Phạm văn T 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/9/2024.
3. Về áp dụng biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 niêm phong bên trong có 0,166 gam ma túy loại Heroine bên ngoài có chữ ký của Phạm Văn T, giám định viên và Công an xã Tân Triều (hiện đang lưu giữ Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/12/2024)
4. Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự ; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân TP Hà Nội; - Viện kiểm sát nhân dân H. Thanh Trì, TP Hà Nội; - Công an huyện Thanh Trì, TP Hà Nội; - Cơ sở giam giữ; - Cơ quan Thi hành án hình sự H.Thanh Trì, Hà Nội; - Chi cục Thi hành án dân sự H. Thanh Trì, Hà Nội; - Bị cáo. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) |