- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249 BLHS 2015) - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Hà Hoài N. Bản án sơ thẩm số 33/2022/HS-ST ngày 03/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười có hiệu lực thi hành đối với bị cáo Hà Hoài N.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 266/2022/HS-PT Ngày: 25-8-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Phạm Minh Tùng.
Các hẩ h n:
Ông Lê Khắc Thịnh.
Ông Nguyễn Ngọc Thông.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Tấn Hào – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Giang Châu - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 192/2022/TLPT-HS ngày 14 tháng 7 năm 2022 đối với các bị cáo Nguyễn Văn S và Hà Hoài N do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 33/2022/HS-ST ngày 03 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện T.
Tại điểm cầu trung tâm gồm có: Hội đồng xét xử phúc thẩm, Kiểm sát viên và Thư ký Tòa án.
Tại điểm cầu thành phần (Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp) gồm có:
1. c o có kh ng c o:
1.1 Họ và tên: Nguyễn Văn S, sinh năm 1980; nơi đăng ký HKTT ấp 2, xã M, thành phố C, Đồng Tháp; nghề nghiệp làm thuê; trình độ văn hóa 05/12; dân tộc kinh; giới tính nam; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1947 (chết) và bà Phạm Thị B, sinh năm 1947; có vợ tên Ngô Thị Thùy T, sinh năm 1980 và có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự không; tạm giữ ngày 11/11/2021; tạm giam ngày 14/11/2021. Bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp và có mặt tại phiên tòa.
1.2 Họ và tên: Hà Hoài N, sinh năm 1992; nơi đăng ký HKTT khóm 4, phường 11, thành phố C, Đồng Tháp; nghề nghiệp làm thuê; trình độ văn hóa 11/12; dân tộc kinh; giới tính nam; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Hà Văn L, sinh năm 1965 và bà Trần Thị H, sinh năm 1966; có vợ tên Bùi Thị Thanh T, sinh năm 1998 (đã ly hôn) và có 01 người con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự không; Nhân thân: Ngày 21/01/2012 bị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc theo Quyết định số 112/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp với thời hạn 12 tháng, chấp hành xong ngày 21/11/2012; tạm giữ ngày 11/11/2021; tạm giam ngày 14/11/2021. Bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp và có mặt tại phiên tòa.
2. Những người tham gia tố tụng kh c:
2.1 Nguyễn Anh Duy – Hạ sĩ.
2.2 Phạm Gia Minh – Hạ sĩ
Đều là cán bộ Trại tạm giam Công an tình Đồng Tháp (có mặt tại điểm cầu thành phần).
Viện kiểm sát không kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
h
i iệ
r n h ơ
n di n i n i hi n a n i d n
n
nh a
Khoảng 07 giờ ngày 11/11/2021, bị cáo Hà Hoài N điều khiển xe mô tô Dream màu nâu, biển kiểm soát 66K3 - 0355 chở Nguyễn Văn S từ huyện Tân H, L về thành phố C, Đồng Tháp. Khi đến địa phận xã Tân Công Si, huyện T, S nhận được điện thoại của T hỏi S có đang ở nhà không để P trả tiền đã thiếu trước đó. Lúc này, S yêu cầu P chuyển tiền qua tài khoản Ngân hàng. P đồng ý, S cung cấp thông tin tài khoản của N cho P. Về đến khu Công nghiệp T thuộc phường 11, thành phố C, S nói N dừng xe để đi vệ sinh và nhờ N đến trụ ATM cách đó khoảng 200m để rút tiền giùm. Trong khoảng thời gian này, S gặp N (không xác định được nhân thân và địa chỉ cư trú) nên hỏi mua ma túy với giá 500.000 đồng. N đồng ý, đưa cho S hộp nhựa màu xanh bên trong có 02 đoạn ống hút nhựa có chứa ma túy, lấy tiền và điều khiển xe đi. Khoảng 05 phút sau, N quay lại chở S về nhà tại xã M, thành phố C. S vào nhà, N ngồi trên xe chờ. Khi trở ra, S rủ Nam đi công việc (Không nói rõ việc gì) thì N đồng ý, N đưa lại xe cho S điều khiển và ngồi phía sau. Đi được khoảng 100m, S lấy trong túi áo khoác hộp nhựa bên trong có 01 đoạn ống hút nhựa hàn kín chứa ma túy đưa cho N cất giữ giùm. N mở hộp, thấy đoạn ống hút nhựa biết là có ma túy bên trong nên lấy ra cầm trên tay phải. Đến địa phận xã T, huyện C, S tiếp tục nhờ N giữ giùm 01 đoạn ống hút nhựa có chứa ma túy trong túi áo khoác bên trái. N lấy và tiếp tục cầm bằng tay phải cùng với số ma túy trước đó. Khi cả hai đi qua đoạn đường đá kênh Năm Chiếu thuộc ấp M, xã M, thì bị Công an huyện T phối hợp Công an xã M yêu cầu dừng xe để kiểm xe. Lúc này, N bỏ 2 đoạn ống hút được hàn kín hai đầu (01 đoạn có đặc điểm màu xanh sọc trắng, 1 đoạn màu trắng sọc đỏ) bên trong có chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng đang cầm trên tay phải xuống đất. Phát hiện sự việc, lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ “hai đoạn nhựa dạng ống hút được hàn kín hai đầu, 1 đoạn có đặc điểm màu xanh sọc trắng, 1 đoạn màu trắng sọc đỏ bên trong có chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy đá được niêm phong trong phong bì thư có ghi chữ “CÔNG AN HUYỆN T CÔNG AN TỈNH ĐỒNG THÁP” có chữ ký, ghi họ tên của Thái B, Dương Thành T, Nguyễn Hào P, Nguyễn Hòa T có đóng dấu đỏ của Công an huyện T- Công an xã M, ký hiệu là A1”.
Tại bản kết luận số 942/KL-KTHS ngày 13/11/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp kết luận: “Tinh thể rắn chứa trong 2 đoạn ống hút được hàn kín hai đầu, 1 đoạn có màu xanh sọc trắng, 1 đoạn có màu trắng sọc đỏ, được niêm phong ghi ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 1,040 gam, loại Methamphetamine”. Hoàn trả mẫu tinh thể rắn còn lại sau giám định trong phong bì thư A1 có khối lượng 0,967 gam.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 33/2022/HS-ST ngày 03/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện T đã quyết định:
- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn S, Hà Hoài N đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn S 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 11/11/2021.
+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Hà Hoài N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 11/11/2021.
- Áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự:
+ Phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Nguyễn Văn S số tiền 7.000.000 đồng. Buộc bị cáo Nguyễn Văn S phải nộp, để nộp vào Ngân sách Nhà nước.
+ Phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Hà Hoài N số tiền 5.000.000 đồng. Buộc bị cáo Hà Hoài N phải nộp, để nộp vào Ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 08 tháng 6 năm 2022, các bị cáo Nguyễn Văn S và Hà Hoài N có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 24/6/2022 bị cáo Hà Hoài N có đơn rút kháng cáo và Tại phiên tòa, bị cáo N tiếp tục rút kháng cáo; Bị cáo Nguyễn Văn S thừa toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung án sơ thẩm đã nêu.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát Tỉnh phát biểu quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm quy kết các bị cáo Nguyễn Văn S và Hà Hoài N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
Xét mức hình phạt 02 Năm 03 tháng tù đối với bị cáo Nguyễn Văn S mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên là phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi của bị cáo gây ra. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới ngoài các tình tiết giảm nhẹ mà cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên phần Quyết định của Bản án sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Văn S
Đối với bị cáo Hà Hoài N đã tự nguyện rút kháng cáo. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Nam.
Nói lời sau cùng, bị cáo Nguyễn Văn S xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn S đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo Nam, phù hợp với lời khai những người làm chứng, Kết luận giám định và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Bị cáo Nguyễn Văn S cùng Hà Hoài N đã có hành vi mua 1,040 gam Methamphetamine với giá 500.000 đồng trên địa bàn thành phố C trên đường mang về để sử dụng thì bị bắt quả tang.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước. Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo đủ tuổi và đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, các bị cáo nhận thức được ma túy có tác hại rất xấu đến sức khỏe và sự phát triển của con người và là nguyên nhân dẫn đến các hành vi tiêu cực khác, thậm chí làm phát sinh tội phạm trong xã hội. Tuy nhiên, các bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện bị cáo phạm tội với lỗi cố ý và tội phạm đã hoàn thành.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, không oan sai.
Xét thấy, mức án 01 năm 03 tháng tù đối với bị cáo S mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên là phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới ngoài các tình tiết giảm nhẹ mà cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên phần Quyết định của Bản án sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Văn S
Đối với bị cáo Hà Hoài N đã tự nguyện rút kháng cáo. Do đó Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo N
Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với các bị cáo là phù hợp nên chấp nhận.
Do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn S không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định. Bị cáo Hà Hoài N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 348; điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự.
1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Hà Hoài N. Bản án sơ thẩm số 33/2022/HS-ST ngày 03/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười có hiệu lực thi hành đối với bị cáo Hà Hoài N.
2. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn S. Giữ nguyên phần quyết định của bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn S.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/11/2021.
- Áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: Phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Nguyễn Văn S số tiền 7.000.000 đồng. Buộc bị cáo Nguyễn Văn S phải nộp, để nộp vào Ngân sách Nhà nước.
3. Về án phí:
- Bị cáo Nguyễn Văn S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Bị cáo Hà Hoài N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TANDTC (Vụ GĐKT 1); - VKSND Tỉnh; - Ban nội chính Tỉnh ủy; - Sở Tư pháp Tỉnh; - Trại tạm giam Công an Tỉnh; - Cơ quan THAHS Công an Tỉnh; - TAND huyện T (02 bản); - VKSND huyện T; - Chi cục THADS huyện T; - Cơ quan CSĐT CAH. T; - Cơ quan THAHS CA H. T; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh; - Phòng KTNV-THA Tòa án Tỉnh; - Bị cáo; - Lưu VT, HSVA, (Hào). với bị cáo Nguyễn Văn Sang Em số tiền 7.000.000 đồng. Buộc bị cáo Nguyễn Văn Sang Em phải nộp, để nộp vào Ngân sách Nhà nước. 3. Về án phí: thẩm. - Bị cáo Hà Hoài Nam không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Ngọc Thông - Lê Khắc Thịnh | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Minh Tùng - Áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: Phạt bổ sung bằng tiền đối - Bị cáo Nguyễn Văn Sang Em phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc 4. Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Minh Tùng |