- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Văn L - phạm tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên (điều 227 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của b cáo Võ Văn L, giữ nguyên bản án s thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 227 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 266/2020/HSPT Ngày: 23-9-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Trần Minh Tuấn
Các thẩm phán:
Bà Lê Thúy Cầu
Ông Nguyễn Tấn Long
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Tuyết Trinh, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Anh - Kiểm sát viên.
Vào ngày 23 tháng 9 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 218/2020/TLPT-HS ngày 23 tháng 6 năm 2020, đối với cáo Võ Văn L về tội “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên”.
Do có kháng cáo của b cáo đối với Bản án h nh sự s thẩm số 14/2020/HS-ST ngày 19/5/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.
Theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số: 1674/2020/QĐXXPT-HS ngày 11 tháng 9 năm 2020.
- Bị cáo có kháng cáo:
Võ Văn L, sinh năm 1979 tại tỉnh Thừa Thiên Huế. N i cư trú: Thôn V, xã Q1, huyện Q2, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Lao động tự do; tr nh độ học vấn: Không đi học; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Q t ch: Việt Nam; con ông Võ Văn L và à Võ Th C; vợ: Lê Th Th và 05 con; tiền án, tiền sự: 01 tiền sự (Ngày 23/3/2019 b Phòng Cảnh sát môi trường Công an tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt vi phạm hành chính 4.000.000 đồng về hành vi khai thác cát trái phép trên sông).
B cáo tại ngoại, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Võ Văn L:
Ông Nguyễn Văn Ph – Văn phòng Luật sư Huế thuộc Đoàn luật sư tỉnh Thừa Thiên Huế.
Đ a chỉ: ố 31 đường T, thành phố H1, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Bà Lê Th Th, sinh năm 1979.
Đ a chỉ: Thôn V, xã Q1, huyện Q2, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có tại hồ s vụ án và diễn iến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ ngày 01/7/2019 Võ Văn L và Phan Văn Q sử dụng đò máy bằng nhôm (thuộc sở hữu chung của L và Q) có gắn thiết b hút cát cùng nhau khai thác cát trái phép dưới lòng sông B thuộc đ a phận thôn TL, phường H2, th xã H3, tỉnh Thừa Thiên Huế nhằm mục đích đem án lấy tiền. Khi cả hai đang điều khiển đò máy để vận chuyển cát đến đ a phận thôn Phước Yên, xã Quảng Thọ, huyện Q2, tỉnh Thừa Thiên Huế thì b Tổ công tác của Đoàn kiểm tra liên ngành về xử lý vi phạm trong hoạt động khai thác cát trái phép trên đ a bàn huyện Q2 phát hiện, bắt giữ.
Tại Bản kết luận giám đ nh số 2217/STNMT-KS ngày 25/11/2019 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thừa Thiên Huế xác đ nh: Loại cát mà Võ Văn L và Phan Văn Q khai thác trái phép vào ngày 01/7/2019 là “ tài nguyên khoáng sản cát làm vật liệu xây dựng thông thường” theo quy đ nh của Luật khoáng sản năm 2010.
Tại Bản kết luận đ nh giá số 3396/KL-HĐĐG ngày 03/12/2019 của Hội đồng đ nh giá tài sản Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xác đ nh: 09m3 cát có giá tr là 2.520.000 đồng (Hai triệu năm trăm hai mư i ngh n đồng).
Tại Biên bản xác minh ngày 08/01/2020, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thừa Thiên Huế khẳng đ nh đến thời điểm hiện tại trên đ a bàn tỉnh không có cá nhân nào được cấp phép khai thác mỏ cát sỏi làm vật liệu xây dựng.
Vật chứng:
C quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thừa Thiên Huế đã tạm giữ:
- 09m3 cát.
- 01 đò máy ằng nhôm (dài 22m, rộng 2,7m, trước mũi đò ghi chữ “8c” màu trắng) có gắn hệ thống hut cát gồm: 01 máy m, 01 ống hút cát, 01 ống xã, 01 cần tre.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2020/HS-ST ngày 19/5/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã quyết định:
Tuyên bố b cáo Võ Văn L phạm tội “ Vi phạm quy đ nh về khai thác tài nguyên”.
Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 227; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: B cáo Võ Văn L 09 (chín) tháng tù.
Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Bản án s thẩm còn quyết đ nh về xử lý vật chứng, án phí, tuyên quyền kháng cáo theo luật đ nh.
Sau khi xét xử s thẩm, b cáo Võ Văn L có đ n kháng cáo nội dung xin được giảm án và được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng có quan điểm b cáo đã xử phạt hành chính về hành vi khai thác cát trái phép, nhưng vẫn tiếp tục thực hiện hành vi khai thác cát trái phép, nên cần xử phạt nghiêm minh. Tuy nhiên cấp s thẩm chưa áp dụng điểm p khoản 1 Điều 51 BLHS do b cáo b điếc là người có khuyết tật nặng, nên đề ngh HĐXX chấp nhận một phần kháng cáo, giảm một phần hình phạt cho b cáo, nhưng không cho cáo được hưởng án treo vì sẽ mất đi tính răn đe trong t nh h nh khai thác cát trái phép như hiện nay.
Luật sư ào chữa cho b cáo đồng ý với việc Tòa án cấp s thẩm xét xử b cáo với tội danh, tuy nhiên nhận đ nh b cáo vì lợi nhuận để thực hiện việc khai thác cát là không đúng mà chỉ là kế mưu sinh mà thôi. Nhân thân cáo không xấu vì bản chất là người lao động, chính vì b xử phạt hành chính nên mới cấu thành tội danh pháp luật quy đ nh và hậu quả xảy ra không lớn nhưng chưa được cấp s thẩm áp dụng điểm h khoản 1 Điều 51 BLHS. Mặt khác gia đ nh cáo hết sức i đát, 5 con còn nhỏ, vợ b bệnh, bản thân b điếc và gia đ nh còn nợ tiền ngân hàng chưa trả, do đó đề ngh HĐXX xem xét chiếu cố áp dụng tình tiết giảm nhẹ nêu trên, chấp nhận kháng cáo của b cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh như sau:
. Tại phiên tòa phúc thẩm, b cáo Võ Văn L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của b cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được tại hồ s vụ án, do đó có đủ c sở xác đ nh: ngày 23/3/2019, Võ Văn L b Phòng Cảnh sát môi trường - Công an tỉnh Thừa Thiên Huế ra Quyết đ nh xử phạt hành chính số 28818/QĐ-XPVPHC với mức phạt 4.000.000 đồng về hành vi khai thác cát trái phép trên sông. Tối ngày 01/7/2019, Võ Văn L cùng với Phan Văn Q tiếp tục dùng thuyền máy, gắn thiết b hút cát đến khu vực sông B, thuộc đ a phận thôn TL, phường H2, th xã H3 tiến hành khai thác trái phép cát dưới lòng sông B, khi đang vận chuyển 09m3 cát vừa khai thác trái phép được thì b c quan chức năng ắt quả tang.
Với hành vi phạm tội như trên, Tòa án cấp s thẩm kết tội Võ Văn L “Vi phạm quy đ nh về khai thác tài nguyên” theo Điều 227 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Xét kháng cáo của Võ Văn L, thấy: Hành vi của b cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý tài nguyên, khoáng sản của Nhà nước, không những làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, gây tình trạng xói mòn, sạt lở bờ sông, thu hẹp đất liền, thay đổi dòng chảy tự nhiên mà còn ảnh hưởng đến các công trình ven sông, ven đê, tác động xấu đến môi trường. Đồng thời gây nguy hiểm cho tính mạng, tài sản của người dân sinh sống ở khu vực xung quanh và các phư ng tiện giao thông đường thủy, cũng như gây mất an ninh, trật tự và bức xúc trong dư luận xã hội. Do vậy, luật sư bào chữa cho b cáo cho rằng gây thiệt hại không lớn là không có căn cứ chấp nhận, nên cần phải xử phạt nghiêm minh nhằm tăng tính răn đe, hạn chế tình trạng khai thác cát trái phép diễn ra tràn lan trong thời gian vừa qua. Khi quyết đ nh hình phạt, Tòa án cấp s thẩm đã xem xét, đánh giá đúng tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của b cáo, áp dụng đúng các tình tiết giảm nhẹ, tuyên phạt b cáo 09 tháng tù về tội “Vi phạm quy đ nh về khai thác tài nguyên” theo điểm đ khoản 1 Điều 227 Bộ luật Hình sự là tư ng xứng với hành vi và hậu quả do b cáo gây ra.
Mặc dù Võ Văn L phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai áo, ăn năn hối cãi. Tuy nhiên, Tòa án cấp s thẩm đã xem xét, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ; mặt khác, b cáo có 01 tiền sự về hành vi tư ng tự, do đó cáo kháng cáo xin được giảm hình phạt và hưởng án treo của b cáo Võ Văn L là không có căn cứ để chấp nhận. Những vấn đề luật sư ào chữa cho b cáo về việc gia đ nh cáo rất khó khăn sẽ được xem xét tại giai đoạn thi hành án. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề ngh áp dụng cho b cáo tình tiết người phạm tội là người khuyết tật nặng cũng không có căn cứ, bởi lẽ chưa có kết luận của c quan có thẩm quyền nên không được chấp nhận.
. B cáo Võ Văn L phải ch u án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết đ nh khác của bản án s thẩm không có kháng cáo, kháng ngh đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .
Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự;
1. Không chấp nhận kháng cáo của b cáo Võ Văn L, giữ nguyên bản án s thẩm.
Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 227; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt b cáo Võ Văn L 09 tháng tù về tội “Vi phạm quy đ nh về khai thác tài nguyên”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
2. B cáo Võ Văn L phải ch u 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết đ nh khác của Bản án hình sự s thẩm số 14/2020/HS-ST ngày 19/5/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế không b kháng cáo, kháng ngh đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Vụ Giám đốc kiểm tra I, TAND tối cao; - VK ND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Thừa Thiên Huế; - C quan C ĐT, Phòng H NV-CA tỉnh Thừa Thiên Huế; - C quan C THAH -CA tỉnh Thừa Thiên Huế; - ở Tư pháp tỉnh Thừa Thiên Huế; - Cục THAD tỉnh Thừa Thiên Huế; - B cáo; Người tham gia tố tụng khác; - Lưu: H VA, LT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Minh Tuấn |