vanban.org

Bản án 266/2019/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 14/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Xử phạt Nguyễn Xuân Đ 15 ( mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành bản án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10/01/2019 đến ngày 15/01/2019.

2/ Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. 3/ Về vật chứng: Căn cứ Điều 47, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự về xử lý vật chứng: tịch thu, tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu Đ bên trong chứa chất ma túy; Trả lại Nguyễn Xuân Đ 01 điện thoại di động nhãn … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân Đ - tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? 1/ Xử phạt Nguyễn Xuân Đ 15 ( mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành bản án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10/01/2019 đến ngày 15/01/2019.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN
Bản án số:266/2019/HSST
Ngày: 14/6/2019

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Quý Sửu

Các hội thẩm nhân dân: 1.Ông Trần Quảng Thái

2. Bà Nguyễn Thị Kim Thu

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Ma Thị Huyền Nhung, Thư ký

Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên

toà: Ông Phan Thanh Tiến, Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2019 tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 189/2019/HSST ngày 01/4/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 217/QĐXXST-HS ngày 02/5/2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Xuân Đ, giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 25/9/1951; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: tổ 16, phường Q, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Sán dìu; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; học vấn: 7/10; con ông Nguyễn Phúc T và bà Lục Thị L (đều đã chết); có vợ là Nguyễn Thị Tr; có 05 con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 10/01/2019 đến ngày 15/01/2019 được thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giam bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ 45 phút ngày 10/01/2019, tổ công tác của Công an phường Q, thành phố Thái Nguyên đang làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 15 của phường đã phát hiện, bắt quả tang và thu giữ của Nguyễn Xuân Đ 02 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng, Đ khai đó là Heroine. Tiến hành cân xác định chất bột màu trắng đã thu giữ của Đ có khối lượng là 0,152 gam.

Tại bản Kết luận giám định số 289/KL – PC 09 ngày 18/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ được của Nguyễn Xuân Đ ngày 10/01/2019 gửi đến giám định là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng là 0,152 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Xuân Đ khai: Khoảng 08 giờ ngày 10/01/2019, Đ điều khiển xe mô tô BKS 20H7 – 8000, mượn của con trai là Nguyễn Ngọc H đến khu vực cầu G, thành phố Thái Nguyên mua ma túy để sử dụng. Đ mua của nam thanh niên không quen biết 02 gói Heroine được gói bằng giấy bạc màu trắng với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Đ cất giấu vào trong chiếc giầy bên trái đang đi rồi đi tìm chỗ vắng người qua lại để sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác của Công an phường Q, thành phố Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Vật chứng của vụ án: 01 phong bì niêm phong ký hiệu Đ, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Q- MOBILE hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.

Đối với chiếc xe mô tô BKS 20H7 – 8000, quá trình điều đã tra xác định chiếc xe là của anh Nguyễn Ngọc H con trai Nguyễn Xuân Đ, anh Hoàng cho Đ mượn và không biết Đ sử dụng vào việc đi mua Heroine, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên đã trả chiếc xe cho anh H là chủ sở hữu quả lý sử dụng, anh H không có ý kiến đề nghị gì.

Tại bản cáo trạng số 194/CT-VKSTPTN ngày 01/4/2019, VKSND thành phố Thái Nguyên truy tố Nguyễn Xuân Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Xuân Đ khai nhận rõ hành vi phạm tội như lời khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên giữ nguyên bản cáo trạng số 194/CT-VKSTPTN ngày 01/4/2019, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

- Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Xuân Đ từ 18 đến 24 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bi cáo; tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng; tạm giữ chiếc điện thoại Q-Mobile để đảm bảo thi hành án.

Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản phạm pháp quả tang, vật chứng thu được, Kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; đó là:… c) Heroine ...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”

Bản cáo trạng số 194/CT-VKSTPTN ngày 01/4/2019 VKSND thành phố Thái Nguyên truy tố Nguyễn Xuân Đ theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Đối chiếu với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, bị cáo là người tham gia kháng chiến bị nhiễm chất độc Da cam, vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt đối với bị cáo:

Hội đồng xét xử thấy, cần áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên xét thấy bị cáo là người cao tuổi, là nạn nhân nhiễm chất độc da cam, nên xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: bị cáo là người nghiện, không có tài sản, không có thu nhập, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: cần tịch thu, tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định niêm phong trong bì ký hiệu Đ bên trong chứa chất ma túy; trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Q- MOBILE.

Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của UBTV Quốc hội thì bị cáo được miễn án phí, nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khỏan 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự;

1/ Xử phạt Nguyễn Xuân Đ 15 ( mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành bản án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10/01/2019 đến ngày 15/01/2019.

2/ Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

3/ Về vật chứng: Căn cứ Điều 47, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự về xử lý vật chứng: tịch thu, tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu Đ bên trong chứa chất ma túy; Trả lại Nguyễn Xuân Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Q- MOBILE màu đen, có số Imel: 869728015699065.

Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 259 ngày 12/4/2019 giữa Công an thành phố Thái Nguyên và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.

4/ Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của UBTVQH 14 về án phí, lệ phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Xuân Đ.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ