vanban.org

Bản án 266/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. Nam Định, tỉnh Nam Định Tuyên án 15/08/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Vũ Văn L 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 02-6-2017. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự, Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy có trong phong bì niêm phong số 471/GĐKTHS. Trả lại cho bị cáo 01 chứng minh nhân dân mang tê… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 266/2017/HSST
Ngày: 15 - 8 -2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diện

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Anh Tuấn

2. Bà Nguyễn Thị Kim Anh

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Anh Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Bình - Kiểm sát viên

Ngày 15 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 266/2017/HSST ngày 26-7-2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 266/2017/QĐ-HSST ngày 02-8-2017, đối với bị cáo:

Họ và tên: Vũ Văn L - sinh năm 1984;

Đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn ĐL, xã ĐS, huyện NT, tỉnh Nam Định;

Dân tộc: Kinh;

Quốc tịch: Việt Nam;

Nghề nghiệp: Không;

Trình độ văn hóa: Lớp 05/12;

Con ông: Vũ Đăng K - sinh năm 1957;

Con bà: Phạm Thị H - sinh năm 1959;

Vợ: Đỗ Thị H - sinh năm 1987; có 01 con sinh năm 2008;

Tiền án: Ngày 22-11-2011, Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (chưa được xóa án tích);

Tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02-6-2017, sau đó chuyển tạm giam từ ngày 08-6-2017 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Nam Định (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 02-6-2017, tại khu vực ngã ba Vũ Hữu Lợi - Đặng Xuân Bảng, phường Cửa Nam, thành phố Nam Định, Tổ công tác Công an phường Ngô Quyền, thành phố Nam Định phát hiện Vũ Văn L có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Tổ công tác đã thu giữ 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng do L thả từ tay phải xuống đất (L khai là gói Heroine), niêm phong và đưa L cùng người làm chứng về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ 01 điện thoại di động Nokia màu đen đã cũ, 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Vũ Văn L. Ngày 05-6-2017, Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Nam Định có bản kết luận số 474/GĐKTHS kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng được niêm phong trưng cầu giám định là chất ma túy; loại chất ma túy là Heroine, có trọng lượng (khối lượng) là 0,136gam.

Tại cơ quan điều tra, Vũ Văn L khai nguồn gốc gói Heroine là do L đi xe bus từ nhà đến khu vực ngã ba Vũ Hữu Lợi - Đặng Xuân Bảng, thành phố Nam Định mua của một đàn ông không rõ lai lịch với giá 100.000 đồng mục đích để sử dụng, trên đường về thì bị bắt giữ.

Bản cáo trạng số 274/QĐ-KSĐT ngày 24-7-2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Vũ Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tại phiên toà, bị cáo Vũ Văn L khai: Ngày 02-6-2017, bị cáo mua 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng, trên đường mang về nhà sử dụng thì bị bắt giữ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm g khoản 1 Điều 48, điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999, Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội; xử phạt bị cáo từ 24 tháng đến 27 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; không áp dụng hình phạt bổ sung; áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự và Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng đã thu giữ.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vũ Văn L không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Bị cáo đã có hành vi tàng trữ 0,136 gam Heroine với mục đích để sử dụng; bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là cố ý, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Do đó bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự.

Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định là có căn cứ.

Xét thấy, tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định hình phạt nhẹ hơn quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì các quy định có lợi cho bị cáo được thực hiện theo Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây mất trật tự an toàn xã hội, góp phần làm gia tăng tệ nạn ma túy, là nguyên nhân dẫn tới nhiều loại tội phạm khác. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Số ma túy đã thu giữ là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy. 01 chứng minh nhân dân mang tên Vũ Văn L là của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo. 01 điện thoại di động thu giữ là tài sản của bị cáo, xét không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với đối tượng đã bán cho L gói ma túy, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Nam Định đã tách ra, tiếp tục điều tra xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo Vũ Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm g khoản 1 Điều 48, điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999, Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015:

Xử phạt bị cáo Vũ Văn L 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 02-6-2017.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự, Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy có trong phong bì niêm phong số 471/GĐKTHS. Trả lại cho bị cáo 01 chứng minh nhân dân mang tên Vũ Văn L và 01 điện thoại di động nhưng tạm giữ chiếc điện thoại để đảm bảo thi hành án.

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 17-7-2017).

3. Án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Vũ Văn L phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Vũ Văn L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ