- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyên đơn: Bà Trần Thuỳ L. Sinh năm 1970. Địa chỉ cư trú: số 33, đường H, khóm 7, phường 7, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (có mặt). Bị đơn:…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thùy L. Buộc ông Đoàn Quốc K có nghĩa vụ thanh toán cho bà Trần Thùy L tổng số tiền là 52.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 265/2023/DS-ST Ngày: 28 – 09 – 2023 V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Nhiêu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Thanh Liêm
Ông Trương Quốc Cường
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Đình Chưởng - Là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Mỹ Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (điểm cầu trung tâm) và Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Cà Mau (điểm cầu thành phần), xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án thụ lý số 407/2023/TLST-DS ngày 11 tháng 7 năm 2023 về việc "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 319/2023/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thuỳ L. Sinh năm 1970. Địa chỉ cư trú: số 33, đường H, khóm 7, phường 7, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (có mặt).
Bị đơn: Ông Đoàn Quốc K. Sinh năm 1987. Địa chỉ cư trú: Số 156, đường G, khóm 8, phường 5, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án được bổ sung tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Trần Thùy L trình bày:
Từ mối quan hệ bạn bè quen biết nên vào ngày 08/12/2019 bà có cho ông Đoàn Quốc K vay số tiền 40.000.000đồng, lãi suất thỏa thuận là 2%/tháng, thời hạn vay là 02 tháng. Khi nhận tiền ông K có viết giấy nhận nợ cho bà cùng ngày 08/12/2019. Quá trình vay ông K có thanh toán được lãi với tổng số tiền là 4.000.000đồng thì ngưng đến nay. Bà đã nhiều lần liên hệ ông K yêu cầu thanh toán nhưng ông chỉ hứa hẹn mà không thực hiện.
Đến tháng 4/2023 bà làm đơn tố giác gửi đến cơ quan Công an thành phố Cà Mau về hành vi gian dối khi vay tiền của bà. Quá trình làm việc ông K thừa nhận có vay tiền và đồng ý thanh toán nợ vốn cho bà.
Theo đơn khởi kiện, bà L yêu cầu ông Đoàn Quốc K có nghĩa vụ thanh toán cho bà tổng số tiền vay còn nợ là 74.802.800đồng. Trong đó nợ vốn là 40.000.000đồng, nợ lãi tính từ ngày 08/3/2020 đến ngày khởi kiện là 11/7/2023 (52 tháng 03 ngày) với mức lãi 1.67%/tháng bằng số tiền 34.802.800đồng.
Tại phiên tòa, bà L thay đổi yêu cầu khởi kiện yêu cầu ông K thanh toán tổng số tiền nợ vay vốn là 40.000.000đồng và nợ lãi tính từ ngày 08/5/2020 đến ngày xét xử là 28/9/2023 (làm tròn là 03 năm) với mức lãi 10%/năm bằng số tiền 12.000.000đồng. Tổng số tiền yêu cầu là 52.000.000đồng.
Đối với ông Đoàn Quốc K: Mặc dù ông K đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng thông báo cho ông K đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử vụ án nhưng ông K vẫn vắng mặt không rõ lý do. Ông cũng không gửi cho Tòa án văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà L.
Quá trình làm việc tại Công an thành phố Cà Mau thì ông K thừa nhận có vay nợ bà L số tiền vốn là 40.000.000đồng, lãi suất trả mỗi tháng là 2.000.000đồng. Ông đã thanh toán liên tục, đầy đủ từ lúc vay cho đến tháng 03/2022 bằng số tiền là 52.000.000đồng thì không còn khả năng thanh toán nên ngưng trả lãi cho đến nay. Ông cam kết sẽ trả dần cho bà L mỗi tháng 500.000đồng đến 1.000.000đồng cho đến khi thanh toán xong nợ vốn.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và nội dung giải quyết vụ án:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nguyên đơn. Về án phí, bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Về tố tụng: Quá trình thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt triệu tập hợp lệ để họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử nhiều lần nhưng ông Đoàn Quốc K vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông K theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền vốn vay là 40.000.000đồng và lãi suất phát sinh. Do đó tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp hợp đồng vay tài sản, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là đúng quy định tại Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Hội đồng xét xử thấy rằng việc giao dịch tiền vay giữa bà Trần Thùy L với ông Đoàn Quốc K là có diễn ra trong thực tế. Bởi lẽ, tại biên nhận vay tiền ngày 08/12/2019 đã thể hiện nội dung: “Tôi tên Đoàn Quốc K, hiện cư ngụ: 156, đường 3/2, P5, TP. Cà Mau. Chứng minh nhân dân số: xxxxxxxxx…. Có mượng của bà Trần Thùy L. Địa chỉ: Khóm 8, phường 8, Thành phố Cà Mau số tiền là 40.000.000đồng. Viết bằng chữ: Bốn mươi triệu đồng. Lãi suất thỏa thuận giữa hai bên. Thời gian trả 2 tháng”. Nguyên đơn xác định quá trình vay bị đơn đã thanh toán nhiều lần, không liên tục được số tiền lãi là 4.000.000đồng thì ngưng thanh toán đến nay.
Đối với ông Đoàn Quốc K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông không tham gia các phiên họp, hòa giải và phiên tòa xét xử vụ án, ông cũng không có văn bản thể hiện ý kiến của mình gửi cho Tòa án. Vì vậy Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để xét xử vụ án. Xét lời trình bày của nguyên đơn là hoàn toàn phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong vụ án. Tại các biên bản làm việc tại Công an thành phố Cà Mau vào ngày 25/4/2023, ngày 25/5/2023 thì ông K thừa nhận có nợ bà L số tiền vốn vay là 40.000.000đồng. Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thùy L về việc buộc ông Đoàn Quốc K thanh toán số tiền nợ gốc đã vay là 40.000.000đồng (1).
Về lãi suất: Tại biên nhận ngày 08/12/2019 thể hiện quá trình giao dịch vay tiền các đương sự có thỏa thuận lãi suất nhưng không xác định rõ mức lãi suất. Theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự thì mức lãi suất được xác định là 10%/năm. Nguyên đơn xác định từ khi vay tiền bị đơn có thanh toán nhiều lần nhưng không liên tục với số tiền lãi là 4.000.000đồng thì ngưng thanh toán đến nay. Đối với bị đơn có trình bày trong quá trình làm việc tại cơ quan công an là đã thanh toán lãi đầy đủ cho bà L mỗi tháng 2.000.000đồng từ ngày vay cho đến khoảng tháng 05/2023 bằng số tiền 52.000.000đồng thì không còn khả năng thanh toán nên ngưng trả lãi, ngoài lời trình bày bị đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ thể hiện có việc thanh toán lãi do đó có cơ sở xác định số tiền lãi bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn đối với khoản vay cụ thể: Lãi tính từ ngày 08/5/2020 đến ngày 28/9/2023 (nguyên đơn làm tròn là 03 năm) bằng số tiền là 40.000.000đồng x 10%/năm x 03 năm = 12.000.000đồng là có căn cứ chấp nhận (2)
Như vậy, tổng số tiền vốn và lãi ông Đoàn Quốc K phải có trách nhiệm thanh toán cho bà Trần Thùy L là (1) + (2): 40.000.000đồng + 12.000.000đồng = 52.000.000đồng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 463, 466, 468, 469 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ Điều 26, 147, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thùy L. Buộc ông Đoàn Quốc K có nghĩa vụ thanh toán cho bà Trần Thùy L tổng số tiền là 52.000.000đồng (Năm mươi hai triệu đồng).
Kể từ ngày bà Trần Thùy L có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Đoàn Quốc K không tự nguyện thi hành xong khoản tiền nêu trên, thì còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc ông Đoàn Quốc K phải chịu 2.600.000đồng (chưa nộp). Bà Trần Thùy L không phải chịu án phí, ngày 11/7/2023 bà L đã dự nộp số tiền 1.870.000đồng theo biên lai số 0003687 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau được nhận lại toàn bộ khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau; - VKSND Tp. Cà Mau; - Chi cục THADS Tp. Cà Mau; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ; - Lưu: Văn thư. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thùy Nhiêu |