vanban.org

Bản án 265/2021/HSST — Hình sự

TAND Q. Long Biên, TP. Hà Nội Tuyên án 29/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn M 22 (hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/07/2021. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TTMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 265/2021/HSST
Ngày: 29/11/2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Bùi Thị Hảo

2. Ông Bùi Văn Bình

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Hồng Hà – Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Hạnh – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 269/2021/TLST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 289/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:

TRẦN VĂN M , sinh năm 1990; HKTT: Thôn T, xã T, huyện Kinh Môn, Hải Dương, chỗ ở: Không cố định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; con ông (Không xác định) và con bà Trần Thị B (sinh năm 1960); Theo danh chỉ bản số 470 ngày 26/07/2021 của Công an quận Long Biên lập và lý lịch địa phương cung cấp bị cáo có 01 tiền án: Bản án số 59/2015/HSST ngày 11/9/2015, Tòa án nhân dân huyện Kinh Môn, Hải Dương xử phạt 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích).

Tạm giữ: ngày 16/7/2021; Tạm giam ngày 22/7/2021 . Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 20 phút ngày 16/7/2021, tổ công tác Công an phường Thượng Thanh làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 30, phường Thượng Thanh, quận Long Biên, Hà Nội phát hiện Trần Văn M có biểu hiện nghi vấn. Quá trình kiểm tra hành chính phát hiện M thả từ lòng bàn tay trái xuống đường 01 gói giấy bên trong chứa chất bột màu trắng. Tổ công tác đã yêu cầu M nhặt 01 gói giấy trên lên và M khai chất bột màu trắng bên trong gói giấy trên là ma túy Heroine của M với mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ niêm phong tang vật và đưa M về trụ sở để làm rõ.

Tang vật thu giữ: 01 gói giấy bên trong chứa chất bột màu trắng.

Tại Kết luận giám định số 5851/KLGĐ-PC09 ngày 24/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội, kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,255 gam.

Tại cơ quan điều tra, Trần Văn M khai nhận: Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 16/7/2021, Trần Văn M bắt xe ôm từ cây xăng Bồ Đề đến khu vực tổ 30 phường Thượng Thanh, quận Long Biên mục đích mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, M gặp và mua của một nguời phụ nữ không quen biết 01 gói ma túy Heroine với giá 100.000 đồng. Sau khi mua ma túy, M cầm ma túy vào trong lòng bàn tay trái và đi bộ để tìm nơi sử dụng. Khi đến khu vực tổ 30, phường Thượng Thanh, quận Long Biên thì bị cơ quan công an kiểm tra hành chính. Do lo sợ bị phát hiện, M đã thả từ lòng bàn tay trái xuống đường 01 gói giấy bên trong chứa Heroine. Tổ công tác đã yêu cầu M nhặt gói ma túy trên lên và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tang vật đưa M về trụ sở để điều tra làm rõ.

Đối với người phụ nữ bán ma túy cho Trần Văn M ngày 16/7/2021: Do M khai không biết nhân thân lai lịch, địa chỉ của người phụ nữ này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra làm rõ, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Lời khai của Trần Văn M phù hợp với lời khai của nhân chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ.

Tại bản cáo trạng số 269/CT-VKS-LB ngày 16/11/2021 Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố bị cáo Trần Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thấy rằng: Hành vi của bị cáo Trần Văn M đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Trần Văn M với mức án từ 24 đến 28 tháng tù giam; Bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 0,255 gam Heroine thu giữ của bị cáo.

Nói lời sau cùng bị cáo nhận thấy việc làm của bản thân là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét mở lượng khoan hồng cho bị cáo mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Long Biên, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ xác định bị cáo có tội: Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, của người làm chứng, biên bản về việc bắt người, vật chứng, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dụng bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ 20 phút ngày 16/7/2021 tại khu vực tổ 30, phường Thượng Thanh, quận Long Biên, Hà Nội, Trần Văn M đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,255 gam ma túy loại Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác Công an phường Thượng Thanh phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.

Hành vi của bị cáo đã đủ cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước đối với các chất ma tuý. Tệ nạn ma tuý đã và đang huỷ hoại sức khoẻ, nhân cách của nhiều người, là hiểm họa, đe dọa đến cuộc sống bình yên của mọi người, mọi nhà và toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân gây mất trật tự an toàn xã hội, là nguồn gốc của nhiều loại tội phạm hình sự. Đồng thời, ma túy là con đường ngắn nhất dẫn tới HIV/AIDS. Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ, sử dụng các chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn thực hiện, do đó cần phải xử phạt bị cáo một hình phạt tù cách ly với xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tăng nặng: Không

- Giảm nhẹ: Khi lượng hình cũng xem xét, tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự 2015 để xem xét giảm nhẹ hình một phần phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, không có khả năng thi hành phạt bổ sung bằng tiền nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 0,255 gam ma túy loại Heroine thu giữ của bị cáo là vật nhà nước cấm lưu hành.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Tuyên bố bị cáo Trần Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt bị cáo Trần Văn M 22 (hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/07/2021.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:

- Tịch thu tiêu hủy: 0,255 gam ma túy loại Heroine thu giữ của bị cáo là vật nhà nước cấm lưu hành (Theo phiếu nhập vật chứng ngày 11/11/2021 có tại kho tang vật Công an quận Long Biên).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Văn M phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ