- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn B - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 265/2021/HS-ST Ngày: 06-12-2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Công Huân
Các Hội thẩm nhân dân: 1. B Phan Thanh Minh
2. B Nguyễn Thị Thanh Mai
- Thư ký Tòa phiên tòa: Ông Lê Tr ng Hưng – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: B Tr n Châu Mai Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 601/2021/HSST ngày 19/10/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 4392/2021/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:
Phan Văn B; Sinh năm: 1993, tại Đồng Nai; Hộ khẩu thường trú: 205 tổ 6, khu phố X, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở: Ô 16 Lô DC, khu dân cư V, khu phố 4, phường A, th nh phố T, tỉnh B Dương; Trình độ h c vấn: 0/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Không rõ v : Phan Thị Th; Tiền sự: hông;
Tiền án:
- Ngày 20/01/2016 bị Tòa án nhân dân th nh phố Dĩ An, tỉnh B Dương ử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội Mua án trái ph p chất ma túy Bản án số 11/2016/HSST), đến ngày 28/4/2020 chấp h nh ong hình phạt tù;
Bị bắt tạm gi , tạm giam từ ngày: 27/01/2021 – C m t
Người bào chữa:
B Nguyễn Ng c Trâm, l Luật sư Văn phòng luật sư Hồ Trung Hiếu, thuộc Đo n luật sư Th nh phố Hồ Chí Minh bào ch a chỉ định cho bị cáo Phan Văn B, c m t.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 10 phút ngày 27/01/2021, tại trước nhà số 28 Nguyễn Công Hoan, Phường 7, quận Phú Nhuận, Th nh phố Hồ Chí Minh, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Phú Nhuận phối hợp cùng với Công an Phường 7, quận Phú Nhuận phát hiện, bắt quả tang Phan Văn B c hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích để mua bán. Thu gi trong cốp để đồ xe gắn máy biển số 63B2-773.39 do B điều khiển 01 túi nylon m u đỏ, n trong c 01 túi nylon m u đen n trong đựng 01 g i nylon h n kín chứa tinh thể không màu, qua giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 99,7786 gam, loại Methamphetamine.
(Kết luận giám định số 917/ LGĐ-MT ngày 04/02/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Tp. Hồ Chí Minh (BL 60).
Cùng ngày 27/01/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Phú Nhuận khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phan Văn B tại Ô 16 Lô DC, khu dân cư Việt Sing D9, khu phố 4, phường An Phú, TP. Thuận An, tỉnh B Dương nhưng không phát hiện thu gi đồ vật gì li n quan đến vụ án.
Tại Cơ quan điều tra, Phan Văn B khai nhận:
Phan Văn B l người sử dụng ma túy đá từ khoảng tháng 06/2015 cho đến khi bị bắt. Số ma túy ị thu gi l do một người thanh niên tên Quốc (không rõ lai lịch) thuê B đi nhận và giao cho khách của Quốc, cụ thể như sau: Khoảng 11 giờ ngày 27/01/2021, B đang ở tại nh ở B Dương thì Quốc g i điện thoại nói B đến khu vực ngã tư Ga, thuộc Quận 12 để Quốc giao việc cho B (không nói rõ là việc gì), B đồng ý. hi g p nhau, Quốc giao cho B 01 xe gắn máy biển số 63B2-773.39 v nói trong cốp e c ma túy đá v d n B đem số ma túy đá n y đi án cho khách của Quốc tại khu vực đường Nguyễn Công Hoan, Phường 7, quận Phú Nhuận, với giá 26.000.000 đồng, sau đ nhận tiền đem về khu vực ngã tư Ga, thuộc quận 12 đưa cho Quốc, Quốc sẽ trả công cho B số tiền 2.000.000 đồng, khi đến điểm h n thì g i điện thoại cho Quốc để Quốc g i điện thoại cho người mua ma túy đến g p B để giao nhận ma túy. B đồng ý nhận xe gắn máy n u tr n nhưng không kiểm tra ma túy bên trong cốp xe nên không rõ số lượng ma túy là bao nhiêu, B chỉ biết l ma túy đá. Sau đ B điều khiển xe gắn máy đi giao ma túy theo chỉ d n của Quốc. Khi đi đến trước nhà số 28 Nguyễn Công Hoan, phường 7, quận Phú Nhuận thì bị phát hiện bắt quả tang như đã n u tr n.
Đối với người đ n ông t n Quốc do bị can Phan Văn B không khai rõ nhân thân, lai lịch v địa chỉ n n Cơ quan điều tra không c cơ sở xác minh, truy bắt để xử lý.
Vật chứng vụ án: Đã được liệt kê tại Phiếu nhập kho vật chứng số 103/PNK/2021 ngày 04/3/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, gồm có:
- 01 Một) g i ni m phong n ngo i ghi vụ 917/21 Phú Nhuận c ch ký của Giám định vi n Nguyễn Thanh Điềm PC09) v Điều tra vi n Nguyễn Phi Tùng PC04), n trong l ma túy còn lại sau giám định.
- 01 Một) túi nylon m u đen v 01 một) túi nylon m u đỏ.
- 01 Một) điện thoại di động hiệu Samsung v 01 Một) điện thoại di động hiệu Oppo
- 01 Một) chiếc e gắn máy iển số 63B2-773.39; Số khung: RLCSEC820HY060001; Số máy: E3Y8E-060003, kết luận giám định số khung, số máy không thay đổi, không ị đục lại. ết quả điều tra được iết: chiếc e gắn máy hiệu Piaggio, loại Sprint 125 iển số 63B2-773.39 có số khung: 2514LV015269, số máy: M82EM5081600 do Anh L Minh Huấn CMND số 312193135, Nơi cư trú tại ấp Phú Mỹ, ã Phú Quý, TX. Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang) đứng t n chủ sở h u v hiện nay do anh Huấn đang quản lý sử dụng. Đối với số khung: RLCSEC820HY060001, số máy: E3Y8E-060003, qua ác minh l của chiếc e máy hiệu Yamaha, loại Janus iển số 62C1-126.65 do Chị Huỳnh Thị Gấm Sinh năm: 1992; Nơi cư trú tại ấp 1, ã Thạnh Hưng, huyện Tân Hưng, tỉnh Long An) đứng t n sở h u, từ năm 2019 đến nay chị Gấm đã ỏ địa phương đi đâu không rõ n n Cơ quan Cảnh sát điều tra đã đăng áo Công an tìm chị Huỳnh Thị Gấm ghi lời khai về việc chị sở h u e gắn máy n u tr n nhưng đến nay chị Gấm chưa li n hệ l m việc. Do đ , Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển Tòa án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh ử lý theo quy định.
- Tiền Việt Nam: 500.000 đồng Năm trăm ng n đồng) đã được gửi v o ho ạc Nh nước quận 10.
Tại bản Cáo trạng số 310/CT-VKS-P1 ngày 08/6/2021, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Phan Văn B về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
* Tại phiên Tòa:
- Bị cáo Phan Văn B đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung vụ án được tóm tắt như n u tr n, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, lời n i sau cùng ị cáo in Hội đồng xét xử, xem xét giảm nh hình phạt.
- Sau khi kết thúc ph n thủ tục xét hỏi, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu lời luận tội, gi nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng n ng, giảm nh của bị cáo Phan Văn B, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 3; khoản 5 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Văn B từ 16 đến 18 năm tù v phạt bổ sung bị cáo số tiền từ 10.000.000 mười triệu) đến 20.000.000 hai mươi triệu) đồng.
Ngo i ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị các biện pháp xử lý vật chứng.
- Người bào ch a cho bị cáo B là Luật sư Nguyễn Ng c Trâm trình bày quan điểm bào ch a như sau:
Thống nhất với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về tội danh Mua bán trái phép chất ma túy , v khung hình phạt áp dụng đối với bị cáo. Tuy nhi n đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thêm các tình tiết: Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bản thân không iết m t cha v hiện nay c ng không còn li n lạc với m . Bị cáo thiếu sự quan tâm chăm s c dạy dỗ của cha m , không được đi h c n n nhận thức hạn chế, n n đã nghe ạn
ấu rủ r lôi k o đi mua án ma túy. Trong quá trình điều tra c ng như tại phiên tòa bị cáo luôn có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, số ma túy đem án chưa phát tán ra n ngo i, n n hậu quả có ph n hạn chế. Mức hình phạt mà đ ạ i d i ện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là quá nghiêm khắc, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nh theo điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cho bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới mức đại diện Viện kiểm sát đề nghị c ng đủ tác dụng răn đe giáo dục đối với ị cáo. Ngo i ra c ng đề nghị Hội đồng t ử em t miễn ho c giảm hình phạt ổ sung l phạt tiền cho ị cáo vì ị cáo sống một mình, ho n cảnh rất kh khăn.
- Đạ i d i ện Viện kiểm sát phát biểu tranh luận: Về tội danh, khung hình phạt và các tình tiết giảm nh khác mà các Luật sư n u ra l thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, nên v n gi nguy n quan điểm như đã đề nghị.
Sau khi tranh luận đối đáp các n v n gi nguy n quan điểm như đã trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Tr n cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện h nh vi c ng như an h nh các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và nh ng người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến ho c khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét lời khai nhận của bị cáo Phan Văn B tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án, qua đ đã c đủ cơ sở ác định:
Khoảng 11 giờ ngày 27/01/2021, Phan Văn B đang ở nh thì đối tượng tên Quốc không rõ lai lịch) g i điện thoại cho B nói đi đến khu vực ngã tư Ga, Quận 12 để Quốc c việc giao cho l m. B đi e ôm đến điểm h n g p Quốc, thì được Quốc giao cho chiếc xe gắn máy v nói trong cốp e c ma túy đá. Quốc d n B đem ma túy đá đi án cho khách của Quốc tại đường Nguyễn Công Hoan, Phường 7, quận Phú Nhuận với giá 26.000.000 đồng, án ong đem tiền về Quốc sẽ trả công cho B 2.000.000 đồng. B đồng ý nhận xe gắn máy n trong cốp e c ma túy đá để đi giao cho Quốc. Khi đi đến trước nhà số 28 Nguyễn Công Hoan, phường 7, quận Phú Nhuận thì bị Công an phát hiện bắt quả tang, thu gi trong cốp xe gắn máy do B điều khiển 01 túi nylon m u đỏ, n trong c 01 túi nylon m u đen n trong đựng 01 g i nylon h n kín gói nylon hàn kín chứa tinh thể không màu. Theo kết luận giám định số 917/ LGĐ-MT ngày 04/02/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Tp. Hồ Chí Minh (BL 60) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 99,7786 gam, loại Methamphetamine.
Xét thấy bị cáo Phan Văn B có hành vi cất gi 99,7786 gam, loại Methamphetamine nhằm mục đích án lại cho đối tượng nghiện, nên đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phan Văn B phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo phan Văn B khai nhận số ma túy bị bắt nêu trên là của đối tượng tên Quốc thuê bị cáo đem đi án cho đối tượng nghiện, nhưng ngo i lời khai của bị cáo ra không có chứng cứ gì khác, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với số ma túy bị cáo đang mang đi ị bắt quả tang.
Hành vi phạm tội của bị cáo là đ c biệt nghiêm tr ng, nguy hiểm cho xã hội, đã âm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nh nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội, m t khác nó còn là nguyên nhân làm cho tệ nạn ma túy ngày càng gia tăng, là nguồn gốc phát sinh ra nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo biết rõ ma túy là một loại tệ nạn xã hội, hành vi mua bán trái phép chất ma túy bị Nh nước nghiêm cấm, nhưng uất phát từ động cơ tư lợi bị cáo v n cố ý phạm tội. Do vậy c n phải có mức án nghiêm khắc, tương ứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, mới có tác dụng răn đe giáo dục đối với các bị cáo v đảm bảo công tác phòng ngừa chung trong xã hội.
Về nhân thân:
Bị cáo B l người có nhân thân xấu, đã c 01 tiền án chưa được a án tích: Ngày 20/01/2016 bị Tòa án nhân dân th nh phố Dĩ An, tỉnh B Dương ử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội Mua án trái ph p chất ma túy , thời hạn tù tính từ ng y 25/7/2015, đến ng y 28/4/2020 chấp h nh ong hình phạt tù. X t thấy ị cáo Phan Văn B l người đã ị kết án về tội phạm rất nghi m tr ng do cố ý, chưa được a án tích lại tiếp tục thực hiện h nh vi phạm tội về tội phạm đ c iệt nghi m tr ng, thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 53 Bộ luật hình sự, n n khi lượng hình c n phải áp dụng tình tiết tăng n ng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với ị cáo.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo Phan Văn B, Hội đồng xét xử thấy c n phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, mới có tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo v đảm bảo công tác phòng ngừa chung trong xã hội.
X t quan điểm của Luật sư o ch a cho bị cáo v quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phi n tòa, Hội đồng t ử nhận thấy về tội danh, khung hình phạt c ng như các tình tiết giảm nh m Luật sư v đại diện Viện kiểm sát đã n u, cơ ản l thống nhất với nhau v c cơ sở, n n chấp nhận. Áp dụng tình tiết giảm nh cho ị cáo Phan Văn B theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với đối tượng tên Quốc l người đưa đã án ma túy cho ị cáo B đem đi án, do B khai không rõ lai lịch, địa chỉ n n Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh không c cơ sở để xác minh, l m rõ để xử lý.
Về hình phạt bổ sung:
X t tính chất mức độ h nh vi phạm tội của ị cáo Phan Văn B, Hội đồng t ử thấy c n thiết phải áp dụng hình phạt ổ sung, phạt ị cáo một số tiền, nộp v o ngân sách Nh nước.
Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án gồm có:
- 01 (Một) gói niêm phong bên ngoài ghi vụ 917/21 Phú Nhuận có ch ký của Giám định viên Nguyễn Thanh Điềm PC09) v Điều tra viên Nguyễn Phi Tùng (PC04), bên trong là ma túy còn lại sau giám định, là vật cấm lưu h nh n n tịch thu tiêu hủy;
- Đối với 01 (một) túi nylon m u đen và 01 (một) túi nylon m u đỏ, là vật không c giá trị, nên tịch thu tiêu hủy;
- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo v 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung thu gi của ị cáo Phan Văn B, ị cáo khai l điện thoại của ị cáo sử dụng h ng ng y, c dùng li n lạc với Quốc để mua án ma túy, đây l công cụ phương tiện dùng v o việc phạm tội, n n tịch thu nộp ngân sách Nh nước;
- Đối với 01 (một) chiếc e gắn máy iển số 63B2-773.39; Số khung: RLCSEC820HY060001; Số máy: E3Y8E-060003, kết luận giám định số khung, số máy không thay đổi, không ị đục lại. ết quả điều tra thể hiện: iển số 63B2-773.39 l của chiếc e gắn máy hiệu Piaggio, loại Sprint 125, có số khung: 2514LV015269, số máy: M82EM5081600 do Anh L Minh Huấn, trú tại ấp Phú Mỹ, ã Phú Quý, thị ã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang đứng t n chủ sở h u v hiện nay do anh Huấn v n đang quản lý sử dụng. Đối với số khung: RLCSEC820HY060001, số máy: E3Y8E-060003, qua ác minh l của chiếc e máy hiệu Yamaha, loại Janus iển số 62C1-126.65 do Chị Huỳnh Thị Gấm, sinh năm 1992, trú tại ấp 1, ã Thạnh Hưng, huyện Tân Hưng, tỉnh Long An đứng t n sở h u, từ năm 2019 đến nay chị Gấm đã ỏ địa phương đi đâu không rõ n n Cơ quan Cảnh sát điều tra đã đăng áo Công an tìm chị Huỳnh Thị Gấm ghi lời khai về việc chị sở h u e gắn máy n u tr n nhưng đến nay chị Gấm chưa li n hệ l m việc.
Xét thấy chiếc xe gắn máy c gắn biển số 63B2-773.39), c số khung: RLCSEC820HY060001, số máy: E3Y8E-060003, l phương tiện dùng vào việc phạm tội, hiện chưa ác định được chủ sở h u, nên giao cho Cục thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục thông áo tr n các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 01 năm, nếu không có chủ sở h u hợp pháp đến nhận, thì chiếc e tr n được tịch thu nộp ngân sách Nh nước.
(Riêng iển số 63B2-773.39 l iển số giả, n n tịch thu ti u hủy);
- Đối với số tiền Việt Nam: 500.000 đồng năm trăm ng n đồng) thu gi của ị cáo Phan Văn B, B khai l tiền của ị cáo đi l m ảo vệ trước đây c được dùng để ti u i cá nhân, (đã nộp v o t i khoản của Cơ quan Cảnh sát điều tra tại kho ạc nh nước Quận 10). L vật không li n quan đến vụ án, n n trả lại cho ị cáo, nhưng được gi lại để đảm ảo cho việc thi h nh án.
Án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Về hình phạt:
+ Căn cứ v o điểm b khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Phan Văn B 17 mười ảy) năm tù về tội Mua án trái phép chất ma túy . Thời hạn tù tính từ ngày 27 tháng 01 năm 2021
Phạt bổ sung bị cáo Phan Văn B số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng, tịch thu nộp ngân sách Nh nước.
[2] Về xử lý vật chứng:
Căn cứ v o Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 Sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (Một) gói niêm phong bên ngoài ghi vụ 917/21 Phú Nhuận có ch ký của Giám định viên Nguyễn Thanh Điềm PC09) v Điều tra viên Nguyễn Phi Tùng (PC04), bên trong là ma túy còn lại sau giám định;
+ 01 (một) túi nylon m u đen và 01 (một) túi nylon m u đỏ;
+ Biển số 63B2-773.39 l iển số giả.
- Tịch thu nộp ngân sách Nh nước:
+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, c số Imei 1: 862651039171811; số Imei 2: 862651039171803 cùng sim số ể m n hình, không kiểm tra Imei do không c nguồn điện, c số ...0700); 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung ị hư m n hình) cùng sim số ể lưng, không kiểm tra Imei do không c nguồn điện)
+ Giao cho Cục thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục thông áo tr n các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 01 năm, nếu không có chủ sở h u hợp pháp của chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha loại Janus, dung tích xi lanh 125, số khung: RLCSEC820HY060001, số máy: E3Y8E-060003 e không gương, e c rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra) đến nhận, thì chiếc e tr n được tịch thu nộp ngân sách Nh nước.
- Trả lại cho bị cáo Phan Văn B số tiền Việt Nam 500.000 năm trăm ng n) đồng, nhưng được gi lại để đảm bảo thi hành án.
(Các vật chứng đã n u hiện đang được lưu gi tại Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, theo biên bản giao nhận tang tài vật số NK2021/336, ngày 27/7/2021 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Riêng số tiền 500.000 năm trăm ng n) đồng, hiện đang được gửi gi tại Kho bạc Nhà nước Quận 10 theo giấy nộp tiền vào tài khoản số 3949.0.9059775.00000 ngày 22/02/2021).
[3] Án phí hình sự sơ thẩm:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Phan Văn B nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo:
Căn cứ khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự
Bị cáo Phan Văn B có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND TC; (1) - TAND Cấp Cao; (1) - VKSND TP. HCM; (3) - Cục THA DS; (1) - Sở tư pháp; (1) - Trại tạm giam; (2) - Bị cáo; (1) - Luật sư; (2) - THA HS; (2) - Phòng PC 53 - CA TP. HCM; (1) - UBND nơi ị cáo cư trú; (1) - Lưu: VT, THS, hồ sơ; 26) (4) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Công Huân |