vanban.org

Bản án 265/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Diễm M đối với anh Nguyễn Thanh Ph.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Diễm M được ly hôn với anh Nguyễn Thanh Ph. Về quan hệ con chung: Anh Nguyễn Thanh Ph được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con tên Nguyễn Thành D, sinh ngày 11/9/2012 đến thành niên hoặc tự lập được, chị Nguyễn Thị Diễm M không phải cấp dưỡng ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Diễm M yêu cầu ly hôn Anh Nguyễn Thanh Ph"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Diễm M đối với anh Nguyễn Thanh Ph.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 265/2018/HNGĐ-ST
Ngày 26 - 7 - 2018
V/v tranh chấp hôn nhân và gia
đình “Ly hôn và nuôi con khi ly
hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Văn Chiến - Thẩm phán

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Phƣơng

2. Ông Võ Văn Tám

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Bùi Văn Trƣờng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Lê Hữu Đức - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 84/2018/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2018, về tranh chấp hôn nhân và gia đình “Ly hôn và nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2018 giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Diễm M, sinh năm 1991. Trú tại: Tổ 26, ấp Khánh B, xã Khánh H, huyện Châu Ph, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh Ph, sinh năm 1988. Trú tại: Tổ 07, ấp Phú H, thị trấn Chợ V, huyện Phú T, tỉnh An Giang.

(Chị M có mặt, anh Ph vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Căn cứ đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Diễm M trình bày: Chị và anh Nguyễn Thanh Phg do mai mối, được cha mẹ hai bên đồng ý tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Chợ Vàm, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang, giấy kết hôn số 181, cấp ngày 06/11/2012. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân là do anh Ph chỉ lo ăn chơi cờ bạc, không lo cho vợ con, chị có khuyên ngăn nhiều lần nhưng anh Ph không sửa chữa, dẫn đến thường xuyên cự cãi nên cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Do đó, tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn, chính thức ly thân từ tháng 10 năm 2017 cho đến nay. Nay yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Thanh Ph.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Thành D, sinh ngày 11/9/2012, hiện nay đang chung sống với anh Ph. Chị M đồng ý giao con cho anh Ph được tiếp tục nuôi, chị không cấp dưỡng cho con.

- Về tài sản chung và nợ phải thu, phải trả: Không có.

- Bị đơn Nguyễn Thanh Ph vắng mặt từ khi tòa án thụ lý đến khi xét xử, nên không có lời trình bày.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, anh Ph vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án là chấp hành pháp luật chưa nghiêm.

- Về nội dung: Hôn nhân của chị M và anh P được xác lập trên cơ sở mai mối, tự nguyện, cha mẹ hai bên đều đồng ý có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ; quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và ly thân, từ khi ly thân đến nay không hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu của chị M về xin ly hôn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Về con chung và tài sản các bên không có tranh chấp, nên đề nghị hội đồng xét xử xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, sau khi nghe Kiểm sát viên phát biểu việc tuân theo pháp luật tố tụng và đề xuất nội dung giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

1 Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Ph được tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa, nhưng anh không có mặt, nên HĐXX xét xử vắng mặt anh theo Điều 227, Bộ Luật tố tụng dân sự, hiện tại anh Ph đăng ký hộ khẩu thường trú tại: TT Chợ Vàm, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang. Nên chị M khởi kiện xin ly hôn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

2 Về nội dung: Xét chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện, hôn nhân của anh, chị được xác lập năm 2010 trên cơ sở mai mối, tự nguyện chung sống, cha mẹ hai bên đồng ý, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn, hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ khi có mâu thuẩn xảy ra, thời gian đầu chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn dẫn đến thường xuyên cự cãi dẫn đến xung đột giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng nguyên nhân là do anh Ph không lo cho gia đình mà chỉ biết ăn chơi thỏa mãn cá nhân, không quan tâm gì đến đời sống của chị, dẫn đến cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, không thể sống chung với nhau được nữa nên anh chị đã chính thức ly thân từ tháng 10 năm 2017 đến nay, thời gian ly thân anh, chị không tạo điều kiện để hàn gắn, từ đó tình cảm vợ chồng phai nhạt, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, điều này phù hợp lời trình bày của bà Lê Thị Bé T (mẹ ruột của chị M) và bà Phan Thị H (mẹ ruột của anh Ph) nên chị M yêu cầu ly hôn là có căn cứ được chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Về quan hệ con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Thành D, sinh ngày 11/9/2012, hiện nay đang chung sống với anh Ph. Chị M cũng đồng ý giao cho anh Ph được tiếp tục nuôi dưỡng, chị không phải cấp dưỡng. Xét thấy việc trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng và cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn, vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đối với con chưa thành niên, theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, hiện cháu D đang sống với anh Ph để ổn định cuộc sống cho cháu D và yêu cầu của chị M, nên HĐXX chấp nhận. Về cấp dưỡng cho cháu D khi có yêu cầu sẽ giải quyết ở vụ án khác.

Về quan hệ tài sản chung; nợ chung phải thu, phải trả: Các bên không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Ghi nhận lời trình bày đương sự không có nợ chung, nhưng sau khi Bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì chị M và anh Ph phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

Ngoài ra, các bên không tranh chấp về vấn đề gì khác nên không đặt ra xem xét.

3 Về án phí: Chị M là người xin ly hôn, nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật, anh Ph không phải chịu án phí.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 56 và Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015;

- Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự;

- Căn cứ Điều 27 Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27, Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Diễm M đối với anh Nguyễn Thanh Ph.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Diễm M được ly hôn với anh Nguyễn Thanh Ph.

- Về quan hệ con chung: Anh Nguyễn Thanh Ph được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con tên Nguyễn Thành D, sinh ngày 11/9/2012 đến thành niên hoặc tự lập được, chị Nguyễn Thị Diễm M không phải cấp dưỡng cho cháu D.

- Về quan hệ tài sản chung; nợ chung phải thu, phải trả: không có.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Diễm M phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn; được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí anh đã nộp theo biên lai thu số 0016638 ngày 19/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân. Anh Nguyễn Thanh Ph không phải chịu án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng anh Ph được quyền kháng cáo kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản sao bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ