vanban.org

Bản án 2649/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H:

1 Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Phạm Hoàng N. (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 92/2015, quyển 1/2014 ngày 01/10/2015 của Ủy ban nhân dân phường T, quận Thủ Đức (nay là thành phố Thủ Đức), Thành phố Hồ Chí Minh). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 2649/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 27/7/2023
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Lưu

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Bùi Thị Phụng

2/ Bà Đinh Thị Diễm Kiều

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hoa, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 7 năm 2023, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 2857/2022/TLST-HNGĐ ngày 15/11/2022 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2807/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/6/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 3621/2023/QĐST-HNGĐ ngày 29/6/2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1992

Địa chỉ: số 47/14 đường số x, khu phố y, phường T, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Phạm Hoàng N, sinh năm 1989

Địa chỉ: số 47/14 đường số x, khu phố y, phường T, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 01/11/2022, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H và ông Phạm Hoàng N tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2015, có tổ chức hỏi cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận Thủ Đức (nay là thành phố Thủ Đức) Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận kết hôn số 92/2015, quyển số 1/2014 ngày 01/10/2015.

Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc bình thường; đến khoảng tháng 4 năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp, từ đó vợ chồng thường xuyên cãi vả, không còn tiếng nói chung, cuộc sống chung vợ chồng không còn hạnh phúc. Trong thời gian qua bà H đã tạo điều kiện để vợ chồng hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả. Thực tế bà H và ông N đã sống ly thân từ khoảng tháng 4 năm 2018 đến nay. Nay bà H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn với ông Phạm Hoàng N.

- Về con chung: Bà H và ông N có 01 con chung tên Phạm Gia K, sinh ngày 22/10/2016. Từ khi vợ chồng ly thân cho đến nay, con chung vẫn do bà trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Nay ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Bà không yêu cầu ông N phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà H xác định không có.

Bị đơn ông Phạm Hoàng N: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, đồng thời triệu tập ông N đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông N vắng mặt, nên không tiến hành hòa giải được và không ghi nhận được ý kiến của ông N.

Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về giải quyết vụ án:

- Về thủ tục tố tụng: Việc thụ lý vụ án, tiến hành thu thập chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử và diễn biến tại phiên tòa đã được Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức và Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án thực hiện đúng quy trình thủ tục theo quy định của pháp luật; tuy nhiên, vẫn còn vi phạm Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về thời hạn chuẩn bị xét xử; về thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự, nguyên đơn chấp hành các quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự.

Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị H được ly hôn ông Phạm Hoàng N; giao con Phạm Gia K, sinh ngày 22/10/2016 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng; ghi nhận sự tự nguyện của bà H không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung: đương sự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức; Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng:

. Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo thể hiện; bà Nguyễn Thị H yêu cầu được ly hôn với ông Phạm Hoàng N, thì vụ án có quan hệ tranh chấp là tranh chấp về ly hôn, là loại tranh chấp được pháp luật quy định tại Khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn ông Phạm Hoàng N có nơi cư trú tại thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, nên thẩm quyền giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình này theo trình tự sơ thẩm là Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức; được pháp luật quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về thủ tục xét xử vắng mặt bị đơn ông Phạm Hoàng N: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã xác minh về tình trạng cư trú và tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng đối với bị đơn nhưng bị đơn vắng mặt. Xét thấy bị đơn đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa ngày 29/6/2023 nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa. Sau khi hoãn phiên tòa, Tòa án tiếp tục triệu tập hợp lệ bị đơn lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng bị đơn vẫn vắng mặt. Vì vậy Hội đồng tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

. Tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về nội dung giải quyết vụ án và yêu cầu của đương sự:

.Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 92/2015, quyển số 1/2014 ngày 01/10/2015 của Ủy ban nhân dân phường Tam Phú, quận Thủ Đức (nay là thành phố Thủ Đức), Thành phố Hồ Chí Minh có cơ sở để xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị H và ông Phạm Hoàng N là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu của bà H xin được ly hôn là có căn cứ, bởi lẽ tình cảm của vợ chồng được xây dựng bởi tình yêu chân chính. Trong cuộc sống, vợ chồng phải chăm sóc và thương yêu lẫn nhau, nhưng thực tế cuộc sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu sống chung cũng không mang lại hạnh phúc cho các bên đương sự. Bà H xác định giữa hai vợ chồng không còn tình cảm với nhau và hiện nay sống ly thân nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông N. Bên cạnh đó ông Phạm Hoàng N đã được Tòa án triệu tập đến Tòa để hòa giải vợ chồng đoàn tụ nhưng ông N không đến đã thể hiện tình cảm vợ chồng không còn. Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Phạm Hoàng N theo quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

. Về con chung: Căn cứ lời khai của bà H phù hợp với bản sao giấy khai sinh số 327 ngày 30/11/2016 của Ủy ban nhân dân phường Tam Phú, quận Thủ Đức (nay là thành phố Thủ Đức) cấp, đủ căn cứ xác định bà H và ông N có một người con chung tên Phạm Gia K, sinh ngày 22/10/2016. Khi ly hôn, bà H có nguyện vọng nuôi dưỡng con và không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy: Con chung là trẻ Phạm Gia K, sinh ngày 22/10/2016 hiện nay đang sinh sống với bà H, khi ly hôn con chung được giao cho ai nuôi dưỡng cũng nhằm mục đích đảm bảo điều kiện tốt nhất cho con chung phát triển thể chất, tâm sinh lý cũng như ổn định việc học tập của con chung. Để không làm ảnh hưởng đến môi trường sống của trẻ nên giao cho bà H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp.

. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con, nên được ghi nhận và Tòa án không xem xét.

. Về tài sản chung và nợ chung: Bà H khai không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

. Về án phí dân sự sơ thẩm: 300.000 đồng bà H phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H:

1.1 Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Phạm Hoàng N.

(Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 92/2015, quyển 1/2014 ngày 01/10/2015 của Ủy ban nhân dân phường T, quận Thủ Đức (nay là thành phố Thủ Đức), Thành phố Hồ Chí Minh).

1.2 Về con chung: Giao con chung tên Phạm Gia K, sinh ngày 22/10/2016 cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị H không yêu cầu ông Phạm Hoàng N cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con. Việc cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi khi có lý do chính đáng.

1.3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà H xác định không có.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: 300.000 đồng (ba trăm nghìn) đồng bà H phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng bà H đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2022/0006822 ngày 15/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải Thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.

Cỡ chữ