- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: LÊ V.C phạm Tội Mua bán trái phép chất ma tuý; LÒ V.C1 phạm Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM TP HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 264/2022/HSST Ngày 15 tháng 12 năm 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hà - Thẩm phán.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Kình và Bà Phan Thị Nga
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Đức Minh - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa:
Ông Trần Việt Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 12 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 276/2022/TLST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 276/2022/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2022, đối với:
1.Bị cáo: Lê V.C. Sinh năm: 1979. Giới tính: Nam. Nơi cư trú: Số 46 ngách 55/24 H, phường N, quận B, Hà Nội Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12/12. Họ tên cha: Lê T.T. Sinh năm: 1945. Họ tên mẹ: An T.C (đã chết). Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba.
Danh chỉ bản số 553 do Công an quận Hoàn Kiếm lập ngày 27/10/2022.
Nhân thân: Không có tiền sự. Có 01 tiền án.
Ngày 14/12/2022, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm đã xét xử bị cáo C về Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, Bản án số 261/2022/HSST, chưa có hiệu lực pháp luật.
2. Bị cáo: Lò V.C1. Sinh năm: 1994. Giới tính: Nam. ĐKHKTT: Bản H, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên. Chỗ ở: Số 22 Đ, phường C, quận K, Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Khơ Mú. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 9/12. Họ tên cha: Lò V.P (đã chết). Họ tên mẹ: Lò T.L. Sinh năm: 1965. Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ năm.
Danh chỉ bản số 344 do Công an quận Hoàn Kiếm lập ngày 20/6/2022
Nhân thân: Không có tiền án, tiền sự.
Bắt quả tang: 13/6/2022 - Tạm giữ: 14/6/2022 - Tạm giam: 23/6/2022
Hiện các bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an Tp. Hà Nội.
(Các Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
*Người bào chữa cho bị cáo C1: Bà Quách Thị Thu Huyền – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hà Nội.
(Bà Huyền có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 ngày 13/6/2022, tổ công tác Công an phường C làm nhiệm vụ trên địa bàn. Khi đi đến trước cửa số nhà 29 N phường C, quận K, Hà Nội, phát hiện Lò V.C1 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Lò V.C1 khai cất giấu gói ma túy trong miệng nhằm mục đích sử dụng, khi bị tổ công tác kiểm tra C1 đã nuốt gói ma tuý vào bụng. Tổ công tác đưa Lò V.C1 đến Bệnh viện B nội soi, lấy ra 01 gói nilông màu trắng, bên ngoài dán băng dính màu đen kích thước khoảng 1x2cm, bên trong chứa chất bột màu trắng. Tổ công tác đã đưa C1 và tang vật về trụ sở Công an phường C để giải quyết.
Ngoài ra, còn thu giữ của C1: 01 điện thoại di động màu xanh đen, nhãn hiệu NOKIA, seri 1: 351639344637061, seri 2: 351639346637069, kèm sim: 0396568650. Xét nghiệm Lò V.C1 dương tính với chất ma túy MOP.
Tại Kết luận giám định số 3929/KLGĐ-PC09 ngày 21/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: chất bột màu trắng bên trong 01 gói nilông là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,230 gam.
Tại cơ quan điều tra, Lò V.C1 khai: Trước khi bị bắt, C1 làm việc và ở tại công trình xây dựng số 22 Đ, phường C, quận K, Hà Nội. Khoảng 18 giờ 40 phút ngày 13/6/2022, C1 lên cơn nghiện nên gọi điện thoại đến số 0982870190 của T (sau này C1 được biết là Lê V.C) hỏi mua 500.000 đồng ma túy Heroine và hẹn giao ma túy tại đầu ngõ 55 H, quận B, Hà Nội. Mua được ma túy, C1 ngậm trong miệng và thuê xe ôm đi về Đ tìm nơi sử dụng. Khi C1 đi bộ đến trước số 29 N thì bị tổ công tác kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang như đã nêu trên. Chiếc điện thoại bị thu giữ là tài sản của Lò V.C1 sử dụng liên lạc với gia đình bạn bè và sử dụng để liên lạc mua ma tuý của Lê V.C.
Cơ quan điều tra đã thu giữ điện tín đối với số điện thoại 0982870190, xác định chủ đăng ký thuê bao là Lê V.C. Đến ngày 06/9/2022, C bị Công an quận K bắt giữ về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý tại Vườn hoa C, phường T, quận K, Hà Nội, thu giữ số điện thoại 0982870190.
Tại cơ quan điều tra, Lê V.C khai: Sáng ngày 13/6/2022, C đến khu vực Vườn hoa B, quận K, Hà Nội gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma tuý Heroine với giá 400.000 đồng. Mua được ma tuý, C mang về nhà cất giấu và đã sử dụng một ít. Đến khoảng 18 giờ 40 phút cùng ngày, C nhận được điện thoại từ số 0396568650 của Lò V.C1 hỏi mua 500.000 đồng ma tuý Heroine. Do có sẵn ma tuý trong nhà nên C đồng ý bán và hẹn C1 đến đầu ngõ 55 H, phường N, quận B, Hà Nội để giao ma tuý. Đây là lần đầu C bán ma túy cho C1, tiền bán ma tuý C sử dụng ăn tiêu cá nhân hết.
Ngày 12/10/2022, Lò V.C1 và Lê V.C đã nhận dạng được nhau qua ảnh. Ngày 20/10/2022, cơ quan điều tra thực hiện đối chất giữa Lò V.C1 và Lê V.C xác định đúng C là người đã bán ma tuý cho C1 vào ngày 13/9/2022 tại đầu ngõ 55 H, phường N, quận B, Hà Nội.
Về người đàn ông bán ma tuý cho Lê V.C, do C khai không biết tên tuổi địa chỉ, cơ quan điều tra đã dẫn giải C đến nơi mua ma tuý nhưng không xác định được người đàn ông bán ma tuý nên không có điều kiện xác minh làm rõ để xử lý.
Tại bản cáo trạng số 273/CT-VKS ngày 22 tháng 11 năm 2022 đã truy tố Lê V.C tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 của Bộ Luật Hình sự, đã truy tố Lò V.C1 tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ Luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Các Bị cáo khai nhận như khai tại cơ quan điều tra và công nhận nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo Lê V.C tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 của Bộ Luật Hình sự là đúng, đã truy tố Lò V.C1 tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ Luật Hình sự là đúng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm giữ quyền công tố sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo bản cáo trạng đã ban hành, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:
+ bị cáo Lê V.C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; áp dụng khoản 1 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ Luật Hình sự, xử phạt bị cáo với mức án từ 28 tháng đến 32 tháng tù. Không áp dụng hình phạt phụ là phạt tiền vì bị cáo nghề nghiệp không ổn định.
+ bị cáo Lò V.C1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ Luật Hình sự, xử phạt bị cáo với mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Không áp dụng hình phạt phụ là phạt tiền vì bị cáo nghề nghiệp không ổn định.
+ Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy, sim điện thoại 0396568650. Đề nghị tịch thu sung công quỹ tài sản đã thu giữ của bị cáo là 01 điện thoại NOKIA, seri 1: 351639344637061, seri 2: 351639346637069. Bị cáo C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo C1 thuôc trường hợp miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Trợ giúp viên pháp lý có ý kiến không phản đối tội danh đối với bị cáo Lò V.C1, đề nghị HĐXX xem xét nhân thân bị cáo lần đầu phạm tội, là người dân tộc thiểu số cư trú ở địa bàn đặc biệt khó khăn mà cân nhắc quyết định hình phạt đối với bị cáo Lò V.C1 cho bị cáo mức án thấp nhất của khung hình phạt, cho bị cáo được miễn án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng Nghị án, các bị cáo được nói lời sau cùng, bị cáo C trình bày bản thân nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy của mình là phạm tội, bị cáo C1 trình bày bản thân nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là phạm tội, xin hứa không tái phạm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên C1 sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về tố tụng: Quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận Hoàn Kiếm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai người làm chứng, biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ, có đủ C1 sở kết luận: Khoảng 18 giờ 40 phút ngày 13/6/2022, Lê V.C đã có hành vi bán trái phép 0,230 gam ma túy Heroine cho Lò V.C1 tại đầu ngõ 55 H, phường N, quận K, Hà Nội, hưởng lợi 100.000 đồng. Mua được ma tuý, Lò V.C1 ngậm trong miệng đi tìm nơi sử dụng, khi đi đến trước cửa số nhà 29 N, phường C, quận K, Hà Nội thì bị kiểm tra, bắt quả tang cùng tang vật.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Các Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và biết rõ hành vi “ Mua bán trái phép chất ma túy” “Tàng trữ trái phép chất ma túy” bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì hám lợi, nghiện ngập nên vẫn cố ý thực hiện.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Các Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Không có.
Về quyết định hình phạt: Hội đồng xét xử nhận thấy cần thiết áp dụng hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo nhằm bảo vệ các quan hệ xã hội bị các hành vi vi phạm pháp luật xâm hại, đảm bảo tính công minh của pháp luật; cách ly người phạm tội với môi trường xã hội, phòng ngừa, ngăn chặn không để họ tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội; răn đe những người có ý định phạm tội góp phần vào cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, đảm bảo an ninh, trật tự của đất nước. Hơn nữa, bị cáo được giáo dục cải tạo, giúp bị cáo nhận thức rõ tội lỗi, hành vi vi phạm pháp luật, khắc phục, sửa chữa những thói quen, hành vi của bản thân không phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội; ăn năn, hối cải, tích cực lao động, học tập, cải tạo, xây dựng nhận thức, tình cảm đúng đắn, định hướng được các giá trị, chuẩn mực về đạo đức, lối sống của công dân để khi trở về địa phương, họ sẽ trở thành những công dân có ích cho xã hội.
Thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù theo quy định của pháp luật.
Về hình phạt phụ bổ sung: Các Bị cáo nghề nghiệp không ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo.
Về Biện pháp tư pháp: - Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ và sim điện thoại 0396568650 do các bị cáo đã sử dụng để liên lạc mua, tàng trữ ma túy.
- Tịch thu xung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động màu xanh đen, nhãn hiệu NOKIA, seri 1: 351639344637061, seri 2: 351639346637069 các bị cáo đã sử dụng để liên lạc mua, tàng trữ ma túy.
Về quyền kháng cáo: Các Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Án phí hình sự: Buộc bị cáo C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo C1 thuộc trường hợp miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố: LÊ V.C phạm Tội Mua bán trái phép chất ma tuý; LÒ V.C1 phạm Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
2. Áp dụng: Điều 251 khoản 1; khoản 1 Điều 38, Điều 47, điểm s khoản 1 Điều 51, của Bộ Luật Hình sự;
3. Xử phạt: LÊ V.C 26 (HAI MƯƠI SÁU) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
4. Áp dụng: Điều 249 khoản 1 điểm c; khoản 1 Điều 38, Điều 47, điểm s khoản 1 Điều 51, của Bộ Luật Hình sự;
5. Xử phạt: LÒ V.C1 13 (MƯỜI BA) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/6/2022.
6. Áp dụng:
- Điều 106, 135, 136, 331, 333 của Bộ Luật tố tụng hình sự 2015;
- Điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;
7. Biện pháp tư pháp:
- Tịch thu tiêu hủy: + 01 phong bì niêm phong dán kín các mép, trên các mép dán có chữ ký của Giám định viên, người làm chứng, Lò V.C1 và cán bộ Công an phường B bên trong có 01 gói nilông màu trắng, bên ngoài dán băng dính màu đen kích thước khoảng 1x2cm, bên trong 0,230 gam ma túy Heroine (PC09 trích mẫu giám định 0,016 gam, còn lại 0,214 gam Heroine) + Và 01 sim điện thoại: 0396568650.
- Tịch thu xung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động màu xanh đen, nhãn hiệu NOKIA, seri 1: 351639344637061, seri 2: 351639346637069.
Số vật chứng trên hiện giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm theo Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 14/12/2022.
8. Án phí: Bị cáo C phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo C1 thuộc trường hợp miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
9. Quyền kháng cáo: Các Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Các Bị cáo; - VKSND quận Hoàn Kiếm; - VKSND thành phố Hà Nội; - Cơ quan Điều tra quận Hoàn Kiếm; - Chi cục Thi hành án DSQHK; - Sở Tư pháp Tp Hà Nội; - Sở Tư pháp tỉnh Đ; - Ủy ban nhân dân p. N; - Ủy ban nhân dân xã Q; - Lưu Hồ sơ vụ án. | THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA NGUYỄN THU HÀ |