- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào đức D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 264/2019/HS-ST Ngày: 23 - 10 - 2019. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huệ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trƣơng Văn Sinh;
Ông Ngũ Minh Luận.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nghĩa, Thƣ ký Toà án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Thoại - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 247/2019/HSST ngày 23 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 265/2019/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:
Đào Đức D, sinh năm 1999 tại tỉnh Nam Định; nơi cƣ trú: Số nhà A đƣờng P, tổ A, khu phố S, phƣờng H, thành phố M, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Đức Th, sinh năm 1980 và bà Trần Thị C, sinh năm 1982; bị cáo chƣa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt, tạm giam ngày 09/6/2019. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Đặng Thanh M, sinh năm 1997; nơi cƣ trú: Ấp M, xã H, thị xã H, tỉnh Trà Vinh - Vắng mặt.
Người làm chứng:
Ông Nguyễn Hoàng T - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 09 tháng 6 năm 2019 Đào Đức D dừng xe mô tô biển số 61P2-2076 ven đƣờng ngay trƣớc số nhà 2/7 thuộc khu phố A, phƣờng H, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng. Lúc này Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thị xã T kết hợp cùng Công an phƣờng H tuần tra kiểm soát an ninh trật tự trên địa bàn phƣờng H phát hiện và nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra hành chính đối với Đào Đức D thì D tự nguyện lấy ở vị trí giỏ xe mô tô giao nộp cho cơ quan Công an một gói thuốc lá hiệu Jet màu trắng bên trong có chứa 04 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng.
Tang vật thu giữ: 04 (bốn) gói nylon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 (một) xe mô tô biển số 61P2- 2076.
Quá trình điều tra xác định: Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 09/6/2019, Đào Đức D đến khu vực trƣớc số nhà A khu phố Đ, phƣờng H, thị xã T mua 04 gói ma túy đá với giá 600.000 đồng của một ngƣời đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) và cất giấu nhằm mục đích sử dụng.
Theo Kết luận giám định số 457/MT-PC09 ngày 17/6/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận: 04 gói nylon hàn kín bên trong chứa chất màu trắng giám định là ma túy, có khối lƣợng 0,7772 gam, loại Methamphetamine.
Tại bản Cáo trạng số 261/CT-VKSTA ngày 23/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An đã truy tố bị cáo Đào Đức D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết giảm nh trách nhiệm Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Đào Đức D từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù.
Về xử lý vật chứng:
- Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy 01 bì thƣ đã niêm phong ký hiệu 457/MT-PC09 là vật chứng trong vụ án.
- Đối với chiếc xe mô tô biển số 61P2 – 2076 bị cáo D sử dụng làm phƣơng tiện phạm tội. Ngày 24/7/2019 Phòng cảnh sát giao thông công an tỉnh Bình Dƣơng không tìm thấy dữ liệu tra cứu đối với chiếc xe trên. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giao chiếc xe trên cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Thuận An tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý theo pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng với nội dung Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo đã ăn năn hối cải và xin đƣợc giảm nh hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Đào Đức D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng nhƣ nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo tại Tòa án. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của ngƣời làm chứng, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 09/6/2019, tại trƣớc nhà số A thuộc khu phố Đ, phƣờng H, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng, bị cáo Đào Đức D thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy gồm 04 (bốn) gói nylon hàn kín bên trong chứa chất màu trắng là ma túy, có trọng lƣợng 0,7772 gam, loại Methamphetamine. Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo Đào Đức D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức đƣợc hành vi cố ý tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng là vi phạm pháp luật Hình sự nhƣng để thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã cất giấu ma túy, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nƣớc, gây mất trật tự, trị an tại địa phƣơng. Vì vậy phải xét xử mức án tƣơng xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đƣợc quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đối với đối tƣợng bán ma túy cho bị cáo hiện không xác định đƣợc nhân thân lai lịch, nên sẽ xử lý ở vụ án khác khi có căn cứ.
Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng pháp luật nên đƣợc chấp nhận.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 bì thƣ đã niêm phong ký hiệu 457/MT-PC09 là vật chứng trong vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 xe mô tô biển số 61P2- 2076 do bị cáo mƣợn của ông Đặng Thanh M, xe môtô trên do ông Mẫn mua của một ngƣời thanh niên không rõ họ tên, địa chỉ nhƣng không làm thủ tục đăng ký, chuyển quyền sở hữu, bị cáo D sử dụng làm phƣơng tiện phạm tội. Xét thấy, từ khi khởi tố điều tra vụ án cho đến khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm, các cơ quan tiến hành tố tụng chƣa xác định đƣợc chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe. Vì vậy, cần phải giao chiếc xe trên cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Thuận An tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý theo pháp luật khi có đủ chứng cứ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Đào Đức D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Đào Đức D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/6/2019.
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thƣ đã niêm phong ghi số vụ 457/MT-PC09 (mẫu vật hoàn lại sau giám định) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng.
- Giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng 01 (một) xe môtô 02 bánh (kiểu dáng Wave), mang biển kiểm soát 61P2 - 2076, số khung LLCLXN3A8Y1B18597, số máy VHLFM152FMH-V 01112816 để xử lý theo thẩm quyền.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17/9/2019 giữa Công an thị xã Thuận An và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận An).
3. Về án phí: Buộc bị cáo Đào Đức D phải nộp 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - Phòng PV 27 CA tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thị xã Thuận An; - Công an thị xã Thuận An; - Chi cục THADS thị xã Thuận An; - Ngƣời tham gia tố tụng; - Lƣu HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Huệ |