vanban.org

Bản án 264/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Cho chị Nguyễn Thị Thu N được ly hôn với anh Lê Văn V.

2/ Về con chung: Không có. 3/ Về tài sản chung: Chị N không yêu cầu giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? 1/ Cho chị Nguyễn Thị Thu N được ly hôn với anh Lê Văn V.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ AN NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 264/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 31.8.2018
“V/v ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Lệ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thảo - Cán bộ hưu trí phường Bình Định, thị xã An Nhơn.

2. Ông Đoàn Cát Nhơn – Giáo viên trường THCS phường Bình Định, thị xã An Nhơn.

- Thư ký phiên Tòa: Cô Nguyễn Mai Đoan Thục - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 172/2018/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2018, về việc “Ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2018/QĐXXST.HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2018 và quyết định hoãn phiên tòa số 37/2018/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu N, sinh năm 1992 (có mặt)

Trú tại: Xóm C, thôn 4, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định

* Bị đơn: Anh Lê Văn V, sinh năm 1989 (vắng mặt)

Trú tại: Thôn T, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện, các thủ tục tố tụng tiếp theo và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu N trình bày: Chị và anh Lê Văn V tổ chức lễ cưới vào năm 2017 có đăng ký kết hôn tại UBND xã N. Sau khi cưới vợ chồng chung sống tại nhà chị ở huyện T, hạnh phúc được khoảng nửa tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh V thường xuyên uống rượu về dọa giết cả gia đình chị và còn kiếm chuyện đánh chị không cần lý do. Trước đây anh V cờ bạc, ăn nhậu gây nợ nần nên sau khi cưới, vợ chồng làm được bao nhiêu tiền đều đem trả nợ cờ bạc cho anh V mà vẫn không trả hết nợ; từ đó chị rất chán nản nên giữa vợ chồng phát sinh kình cãi, mâu thuẫn căng thẳng. Đến tháng 2/2018 anh V nói với cha mẹ chị là vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau nên anh bỏ về sống tại nhà cha mẹ ruột ở N, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Chị xác định vợ chồng không còn tình cảm với nhau, cuộc sống chung không hạnh phúc nên yêu cầu được ly hôn với anh Lê Văn V.

Về con chung: Vợ chồng không có con chung

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa giải quyết.

2

* Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập và thông báo tiêp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho anh Lê Văn V nhưng anh V không đến tòa để trình bày ý kiến.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị N theo Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Về con chung và tài sản chung: Không xem xét

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14 ngày 30.12.2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc các bên đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Thu N khởi kiện xin ly hôn với anh Lê Văn V có địa chỉ cư trú tại thôn T, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định theo quy định Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn.

Bị đơn anh Lê Văn V được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn tiếp tục vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điểm b Khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh V.

Về nội dung:

Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Thu N và anh Lê Văn V được xác lập vào năm 2017, có tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã N theo đúng quy định của luật hôn nhân gia đình. Tuy nhiên chị N và anh V chung sống với nhau trong một khoảng thời gian ngắn đã phát sinh nhiều mâu thuẫn. Theo lời khai của chị N thì nguyên nhân mâu thuẫn xuất phát từ việc anh V thường xuyên uống rượu và đánh chị. Vợ chồng mâu thuẫn kéo dài đến đầu năm 2018 thì anh V bỏ về sống tại nhà cha mẹ ruột ở xã N, vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2018 cho đến nay.

Trong quá trình giải quyết vụ án, do không thể thu thập được lời khai của anh Lê Văn V nhưng qua xác minh cha mẹ ruô ôt của anh V là ông Lê Sơn N và bà Phan Thị X cung cấp cho thấy giữa chị N và anh V có mâu thuẫn kéo dài và cả hai đã tự chấm dứt cuộc sống chung, sống ly thân đầu năm 2018. Vợ chồng ông N - bà X xác định anh V đã nhận được thông báo thụ lý vụ án, thông báo tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, anh V bày tỏ ý kiến là đồng ý ly hôn với chị N nhưng vì đi làm nên không có thời gian đến tòa. Như vâ ôy, cho thấy mâu thuẫn giữa chị N và anh V đã căng thẳng và thâ ôt sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chấp nhâ ôn cho chị Nguyễn Thị Thu N được ly hôn với anh Lê Văn V là phù hợp với thực thế mâu thuẫn.

Về con chung: Chị N xác định giữa chị và anh V không có con chung nên không xem xét.

Về tài sản chung: Chị N không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thu N phải chịu theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14 ngày 30.12.2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Ý kiến của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng các Điều 51, 53, 56, 57 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14 ngày 30.12.2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Cho chị Nguyễn Thị Thu N được ly hôn với anh Lê Văn V.

2/ Về con chung: Không có.

3/ Về tài sản chung: Chị N không yêu cầu giải quyết.

4/ Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thu N phải chịu 300.000đ được khấu trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008629 ngày 16.4.2018 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã An Nhơn.

5/ Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này lên cấp xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này lên cấp xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ