vanban.org

Bản án 264/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 28/12/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Kim L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: bị cáo Trần Thị Kim L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 23 tháng 20 ngày tù của bản án số 175/2015/HSST ngày 18-9-2015 của Tòa án nhân dân Thành phố V bị cáo chưa thi hành. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 04 (bốn) năm 05 (năm) tháng 20 (hai mươi) ngày tù, th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị Kim L - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Kim L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 33 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 264/2017/HSST
Ngày 28-12-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trung Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hải

Ông Nguyễn Phi Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Đậu Thị Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Ủy ban nhân dân Phường M, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 247/2017/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2017, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 263/2017/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2017, đối với bị cáo:

Trần Thị Kim L, tên gọi khác: Bé Tám, sinh năm 1982 tại Long An; nơi đăng ký HKTT: ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Long An; nơi ở: 1/10 đường T, phường N , thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nghề nghiệp: làm móng tay; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Th (đã chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1944; có chồng Nguyễn Văn L, sinh năm 1989 và có 03 con, lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2014.

Tiền sự: không.

Tiền án: Ngày 18-9-2015, Tòa án nhân dân Thành phố V xử phạt 24 tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, khấu trừ thời gian tạm giam là 10 ngày (Từ ngày 27/12/2014 đến ngày 06/01/2015). Thời hạn tù còn lại L phải chấp hành là 23 tháng 20 ngày, được tạm hoãn thi hành án do nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi.

Bị bắt, tạm giam ngày 03 tháng 11 năm 2017, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an Thành phố V (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 08 giờ 15 phút ngày 03-11-2017, tại trước nhà số 58/3 đường T, phường N, Thành phố V, Phòng phòng chống ma túy và tội phạm - Bộ đội Biên phòng tỉnh BR-VT kết hợp với Đồn Biên phòng Bến Đá- BĐBP tỉnh BR-VT bắt quả tang Trần Thị Kim L đang có hành vi tàng trữ 01 gói nylon và 05 đoạn ống hút nhựa, bên trong có chứa chất bột màu trắng (L khai là Heroin), đồng thời thu của L 01 điện thoại di động hiệu VIETTEL, kèm sim số 01685130190.

Ngay khi mới bị bắt, Trần Thị Kim L khai nhận: L sử dụng Heroin khoảng 4 đến 5 năm nay. Ngày 01/10/2015, L đã bị Tòa án nhân dân thành phố V xử phạt 02 năm tù giam, về tội mua bán trái phép chất ma túy, do L đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi nên được tại ngoại. Trong thời gian chưa chấp hành án phạt tù, L tiếp tục sử dụng Heroin. Nguồn Heroin, L đã nhiều lần, mỗi lần mua từ 200.000đ đến 500.000đ/1 gói của người phụ nữ không rõ lai lịch tên B ở khu vực Xóm L, phường N, Thành phố V để sử dụng. Trong số ma túy bị bắt quả tang, một con nghiện không rõ lai lịch đưa 500.000đ nhờ L mua hộ 01 gói Heroin, L mua 01 gói Heroin của B bán với giá 500.000đ và đang đứng chờ con nghiện đến để giao gói ma túy trên, thì bị bắt quả tang. Riêng 05 đoạn ống nhựa có chứa Heroin, L khai tàng trữ sử dụng dần (BLĐT: 22 đến 24).

Quá trình điều tra về sau, L khai: Toàn bộ số ma túy bị thu giữ trên, L mua của người phụ nữ không rõ lai lịch tên B ở khu vực Xóm L, phường N, thành phố V bán với giá 500.000đ để sử dụng.

Do không bắt được con nghiện, nên cơ quan chức năng không đủ cơ sở xác định được hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Trần Thị Kim L.

Lời khai của Trần Thị Kim L phù hợp chứng cứ thu thập được.

Bản kết luận giám định số: 240/GĐMT-PC54(Đ4) ngày 06/11/2017 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu kết luận:

Mẫu chất bột màu trắng chứa trong 05 (năm) (04 đoạn màu trắng sọc xanh, 01 đoạn màu đỏ), đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu và trong 01 (một) gói nylon được hàn kín, được niêm phong trong một phong bì màu trắng, có hình dấu của Bộ CHBĐBP tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu, cùng các chữ ký họ tên: Thượng tá Lê Hồng Sơn, Hồ Văn Tuấn, Trần Thị Kim L, Tạ Hoàng Hải, Nguyễn Thanh Lâm, gửi đến giám định có tổng trọng lượng là 0,6206 gam, là chất ma túy, loại Heroine.

Heroine là chất ma túy nằm trong Danh mục I, STT 20, Nghị định 82 ngày 19/7/2013 của Chính Phủ.

Tại bản cáo trạng số 258/CT-VKS ngày 29-11-2017, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố V đã truy tố Trần Thị Kim L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với Trần Thị Kim L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48, Điều 33, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù, tổng hợp với hình phạt 23 tháng 20 ngày tù của bản án số 175/2015/HSST ngày 18-9-2015 của Tòa án nhân dân Thành phố V, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung.

Bị cáo Trần Thị Kim L đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên. Bị cáo đã nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn, hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Vũng Tàu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được tại hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Lúc 08 giờ 15 phút ngày 03-11-2017, tại trước nhà số 58/3 đường T, phường N, thành phố V, cơ quan chức năng bắt quả tang Trần Thị Kim L có hành vi cất giấu bất hợp pháp 01 gói nylon và 05 đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đầu bên trong có chứa chất bột màu trắng, có trọng lượng 0,6206 gam, là chất ma túy, loại Heroine. Như vậy, hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999.

Xét Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định hình phạt cao nhất là tử hình, Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định hình phạt cao nhất là phạt tù chung thân, do đó Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định hình phạt nhẹ hơn so với Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999. Nên áp dụng Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc Hội; khoản 3 Điều 7; khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 để quyết định trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến việc quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác liên quan đến ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh tại địa phương. Vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo đã bị kết án về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS năm 1999.

Xét bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 để giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

Xét bị cáo chưa chấp hành hình phạt 23 tháng 20 ngày tù theo bản án số 175/2015/HSST ngày 18-9-2015 của Tòa án nhân dân Thành phố V, nên áp dụng Điều 51 Bộ luật hình sự năm 1999 để tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo thuộc thành phần lao động làm thuê, không có khả năng thi hành án nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- 01 gói ma túy niêm phong số 240/GĐMT-PC54(Đ4) ngày 06-11-2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cần tịch thu tiêu hủy;

- 01 ĐTDĐ hiệu Viettel (kèm sim) không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Kim L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48, Điều 33, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 1999;

Xử phạt: bị cáo Trần Thị Kim L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Tổng hợp với hình phạt 23 tháng 20 ngày tù của bản án số 175/2015/HSST ngày 18-9-2015 của Tòa án nhân dân Thành phố V bị cáo chưa thi hành. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 04 (bốn) năm 05 (năm) tháng 20 (hai mươi) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày 03 tháng 11 năm 2017.

2. Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tịch thu tiêu hủy 01 gói ma túy niêm phong số 240/GĐMT-PC54(Đ4) ngày 06-11-2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;

- Trả lại cho bị cáo Trần Thị Kim L 01 ĐTDĐ hiệu Viettel (kèm sim).

Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng số 35/BB.THA ngày 30-11-2017.

3. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng ) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ