vanban.org

Bản án 263/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Cho chị Triệu Ngọc Thảo N được ly hôn anh Hà Hữu X.

Giao con chung là cháu Hà Tuấn K, sinh ngày 24 tháng 08 năm 2022 cho chị Triệu Ngọc Thảo N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Hiện nay cháu K đang sống cùng với chị N. Anh Hà Hữu X không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa chị Triệu Ngọc Thảo N và anh Hà Hữu X"
  • Tòa quyết gì? Cho chị Triệu Ngọc Thảo N được ly hôn anh Hà Hữu X.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUY PHƯỚC,
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 263/2023/HNGĐ-ST
Ngày 24-08-2023
V/v ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Lệ Quyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đình Phương.

2. Ông Nguyễn Văn Sang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Thùy Diễm – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 08 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 74/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2023, về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 191/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 07 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Triệu Ngọc Thảo N, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn Q, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Hà Hữu X, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn Q, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 03 tháng 03 năm 2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Triệu Ngọc Thảo N trìnhbày: Chị và anh Hà Hữu X cùng làm việc ở thành phố Hồ Chí Minh nên quen biết nhau, anh chị tìm hiểu nhau được 01 thời gian thì vì chị có thai nên hai bên gia đình thống nhất tổ chức lễ cưới cho cả hai. Sau đó anh chị đăng ký kết hôn ngày 12 tháng 4 năm 2022 tại UBND xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn, vì chị có thai không làm việc được nữa nên vợ chồng chị chuyển về sinh sống tại nhà cha mẹ chị ở thôn Q, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định. Thời gian này vợ chồng chị phát sinh nhiều mâu thuẫn vì trước khi kết hôn cả hai chưa có sự tìm hiểu kỹ nên chưa hiểu tính cách của nhau. Khi về sống chung thường hay cãi vã không hòa hợp. Anh X sống tại nhà cha mẹ chị nhưng không chăm lo làm ăn nên cha mẹ chị rất phiền lòng. Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh X.

Về con chung: Chị và anh X có 01 con chung là cháu Hà Tuấn K, sinh ngày 24 tháng 8 năm 2022. Nếu ly hôn, chị yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên Toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước phát biểu:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án tiến hành thu thập đầy đủ các tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án. Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Triệu Ngọc Thảo N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con với anh Hà Hữu X là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh X đang cư trú tại thôn Q, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh X vẫn vắng mặt không có lý do. Chị N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh X, chị N.

Quá trình giải quyết vụ án, chỉ có chị N cung cấp tài liệu chứng cứ. Hội đồng xét xử chỉ căn cứ vào những tài liệu chứng cứ này và kết quả thu thập chứng cứ của Tòa án để giải quyết vụ án.

Về hôn nhân: Chị Triệu Ngọc Thảo N và anh Hà Hữu X tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 12 tháng 04 năm 2022 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa nên hôn nhân giữa chị N, anh X là hôn nhân hợp pháp. Hội đồng xét xử xét thấy: Chị N, anh X chưa tìm hiểu kỹ và chưa thực sự thấu hiểu nhau. Tuy là vợ chồng nhưng anh X và chị N không có sự thống nhất chung. Chị N xin ly hôn thì anh X cũng không có ý kiến, nguyện vọng gì để hàn gắn hôn nhân, thể hiện ý thức bỏ mặc kết quả. Điều đó cho thấy hôn nhân giữa chị N và anh X đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, nếu duy trì cuộc hôn nhân này cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, cho chị N được ly hôn anh X.

Về quan hệ con chung: Chị N và anh X có 01 con chung là cháu Hà Tuấn K, sinh ngày 24 tháng 08 năm 2022. Chị N yêu cầu được nuôi con. Vì cháu K chưa đủ 36 tháng tuổi và chị N vẫn đảm bảo chăm sóc, giáo dục cho cháu K được phát triển bình thường nên áp dụng khoản 3 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình giao cháu K cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.

Về tài sản chung và nợ: Chị N, anh X không có tài sản chung, không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyếtsố: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, chị Triệu Ngọc Thảo N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 3 Điều 81, các Điều 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

1. Cho chị Triệu Ngọc Thảo N được ly hôn anh Hà Hữu X.

2. Giao con chung là cháu Hà Tuấn K, sinh ngày 24 tháng 08 năm 2022 cho chị Triệu Ngọc Thảo N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Hiện nay cháu K đang sống cùng với chị N.

Anh Hà Hữu X không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc làm ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chămsóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cũng như việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Chị Triệu Ngọc Thảo N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí mà chị N đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001481 ngày 07 tháng 04 năm 2023 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phước.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ