vanban.org

Bản án 263/2021/HSST — Hình sự

TAND Q. Ba Đình, TP. Hà Nội Tuyên án 29/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Thanh S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Phạm Thanh S 16 (Mười sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 04/6/2021. Vật chứng của vụ án: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Thanh S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN B
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 263/2021/HSST
Ngày 29 tháng 11 năm 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lưu Thị Kim Hiền

Bà Đỗ Thị Sỹ Long

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B, thành phố H tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo – Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 11 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận B, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 223/2021/HSST ngày 09 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:

Phạm Thanh S, sinh năm 1971; HKTT: 03/267/2/79 H, phường L, quận B, thành phố H; Nơi ở: Tổ dân phố T, phường T, quận B, thành phố H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Họ và tên bố: Phạm Văn V (đã mất); Họ và tên mẹ: Ngô Thị V (đã mất); Họ và tên vợ: Đặng Hồng V1 (đã ly hôn); Có 02 con, con lớn sinh năm 1994, con nhỏ sinh năm 2000; Tiền án, tiền sự: không, theo danh chỉ bản số 296 lập ngày 09 tháng 6 năm 2021 của Công an Quận B, thành phố H.

- Bị cáo bị bắt quả tang ngày 04/6/2021. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an Thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên Tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 45 phút ngày 04 tháng 6 năm 2021, tại trước cửa số nhà 381 Đ, phường L, B, H, Tổ công tác C3-PK02E Công an Thành phố H tiến hành kiểm tra hành chính Phạm Thanh S điều khiển xe máy Dream biển kiểm soát: 29B1 – 36763 chở Lê Thanh K (sinh năm: 1985; trú tại: Bản T, chợ Đ, B), đã phát hiện Phạm Thanh S lấy từ trong túi quần phía trước bên phải ra 01 gói ni lông bên trong chứa tinh thể màu trắng, thả xuống đất. S khai là ma tuý loại Methamphetamine, mua về để sử dụng. S đã tự nguyện nhặt gói ma tuý lên giao nộp cho tổ công tác.

Kiểm tra K, Tổ công tác không phát hiện thu giữ gì của K. Tổ công tác đã đưa Phạm Thanh S, Lê Thanh K về trụ sở Công an phường L để làm rõ.

Vật chứng thu giữ của Phạm Thanh S gồm:

- 01 gói ni lông kích thước 2x2cm bên trong đựng tinh thể màu trắng.

- 01 ĐTDĐ Samsung J2 màu hồng

- 01 xe mô tô hiệu Honda Dream màu mận-BKS 29B1-367.63, SM: HAO 8E-0033240; SK: RLHHA.08031Y033226.

- 01 đăng ký xe mô tô mang tên Nghiêm Xuân Đ, BKS: 29B1-367.63.

Bản Kết luận giám định số: 4583/KLGĐ-PC09 ngày 10/06/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố H kết luận: “Tinh thể màu trắng bên trong 01 gói ni lông là ma tuý loại Methamphetamine, khối lượng: 0,443gam”.

Tại cơ quan điều tra, Phạm Thanh S khai: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 03 tháng 6 năm 2021, Phạm Thanh S rủ Lê Thanh K đi chơi. K đồng ý. S điều khiển xe máy Dream biển kiểm soát: 29B1 – 36763 chở K. Khi S đi đến khu vực đầu ngõ 91 N, thì S nảy sinh ý định mua ma túy về sử dụng cho bản thân nên đã dừng xe, bảo K ngồi đợi rồi một mình đi bộ vào trong ngõ (việc S vào mua ma túy, S không nói cho K biết). S đi vào trong ngõ khoảng 10m thì rẽ phải. Tại đây, S gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói nilon chứa ma túy đá hết 300.000 đồng. Mua xong, S cất gói ma túy vào túi phía trước bên phải chiếc quần S đang mặc rồi đi bộ ra chỗ K đợi rồi tiếp tục chở K đi tiếp. Khi S và K điều khiển xe máy đi đến trước cửa số nhà 381 Đ, L, B, H thì bị tổ công tác C3 - PK02E – CATPHN dừng xe kiểm tra. Quá trình tổ công tác kiểm tra, S đã lấy túi nilon ma túy đá vừa mua được từ trong túi quần phía trước bên phải thả xuống dưới đất cạnh chỗ Sơn đứng thì bị tổ công tác phát hiện, bắt quả tang. Tại chỗ, S khai nhận gói nilon S thả xuống dưới đất là ma túy đá, S mua về chưa kịp sử dụng. Việc S tàng trữ ma tuý, không nói cho K biết. Tổ công tác đã đưa S và K về trụ sở Công an phường L để giải quyết.

Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Phạm Thanh S nhận dạng đối với gói ma túy S mua ngày 03 tháng 6 năm 2021, quá trình nhận dạng S đã chỉ ra được gói ma túy S đã mua, phù hợp gói ma tuý mà tổ công tác C3-PK02E Công an Thành phố H thu giữ.

Lời khai của Phạm Thanh S phù hợp lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ, sơ đồ hiện trường, cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Đối với chiếc xe máy mô tô hiệu Honda Dream màu mận-BKS 29B1 367.63, SM: HAO 8E-0033240; SK: RLHHA.08031Y033226 và 01 đăng ký xe mô tô mang tên Nghiêm Xuân Đ, BKS: 29B1-367.63, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Nghiêm Xuân Đ (SN: 1992, HKTT: số 132 ngõ 189 H, phường L, B, H), là cháu của Phạm Thanh S. Anh Đ cho S mượn xe máy, không biết sử dụng vào việc phạm tội. Do vậy, cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe máy và đăng ký xe trên cho anh Đ.

Đối với Lê Thanh K không biết việc Phạm Thanh S tàng trữ ma tuý. Do vậy, không có căn cứ để xử lý đối với Lê Thanh K.

Đối tượng bán ma tuý cho Phạm Thanh S, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra nhưng không xác định được lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.

Cáo trạng số 219/CT-VKS ngày 02 tháng 11 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận B, thành phố H truy tố Phạm Thanh S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên toà bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận B sau khi phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị tuyên phạt: Bị cáo Phạm Thanh S mức án từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù;

* Xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong bên trong chứa 0,443 gam ma tý loại Methamphetamine đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và bị cáo Phạm Thanh S.

- Trả lại cho bị cáo 01 ĐTDĐ Samsung J2 màu hồng do không liên quan đến hành vi phạm tội.

- Bị cáo không có nghề nghiệp nên miễn phạt tiền đối với bị cáo; Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, bị cáo không có tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về gia đình và có cơ hội sửa đổi bản thân.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến phát biểu quan điểm của Kiểm sát viên, bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận B, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật và biên bản niêm phong tang vật được lập cùng ngày 04/6/2021 phù hợp với bản kết luận giám định số 4583/KLGĐ-PC09 ngày 10/06/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội, phù hợp với các biên bản, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra thu thập được, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 00 giờ 45 phút ngày 04 tháng 6 năm 2021, tại trước cửa số nhà 381 Đ, phường L, B, H, Phạm Thanh S đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,443 gam ma tuý loại Methamphetamine để sử dụng, bị Tổ công tác C3-PK02E Công an Thành phố H, phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng. Hành vi của bị cáo Phạm Thanh S đã phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

. Hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Thanh S là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà Nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Ma túy là chất gây nghiện và là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và là nguyên nhân lây truyền căn bệnh HIV, AIDS. Với mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng mức hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và mang tính răn đe, phòng ngừa chung.

. Khi lượng hình, Hội đồng xét xử có xem xét tại Cơ quan điều tra và tại phiên Tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn, lần đầu phạm tội nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ Luật hình sự năm 2015.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện, không có nghề nghiệp ổn định, nên xét không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền bị cáo.

. Đối tượng bán ma túy cho Phạm Thanh S, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra nhưng không xác định được lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.

. Đối với chiếc xe máy mô tô hiệu Honda Dream màu mận-BKS 29B1 367.63 và 01 đăng ký xe mô tô mang tên Nghiêm Xuân Đ, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Nghiêm Xuân Đ (cháu của Phạm Thanh S). Anh Đ cho S mượn xe máy, không biết sử dụng vào việc phạm tội. Do vậy, cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe máy và đăng ký xe trên cho anh Đ là đúng với quy định của pháp luật.

. Vật chứng của vụ án đã bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình là: 01 bao niêm phong bên trong chứa 0,443 gam ma tý loại Methamphetamine đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và bị cáo Phạm Thanh S, đây là vật cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015: Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 ĐTDĐ Samsung J2 màu hồng.

. Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Thanh S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Áp dụng Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Phạm Thanh S 16 (Mười sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 04/6/2021.

3. Vật chứng của vụ án:

- Tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong bên trong chứa 0,443 gam ma tý loại Methamphetamine đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và bị cáo Phạm Thanh S.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 ĐTDĐ Samsung J2 màu hồng, số Imei: 354072093894906/01.

Hiện các vật chứng trên, Chi cục Thi hành án dân sự quận B đang quản lý theo biên bản bàn giao vật chứng số: 17 ngày 03 tháng 11 năm 2021.

4. Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. NƠI NHẬN:

Cỡ chữ