- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyễn Thị H kiện Nguyễn Văn T về tranh chấp Quyền sử dụng đất"
- Tòa quyết gì? Căn c khoản 2 Điều 308; Điều 309 B lu t Tố tụng dân sự năm 2015.
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 263/2018/DS-PT Ngày: 31/7/2018 V/v tranh chấp:“ Quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘICHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Thúy
Các Thẩm phán: Ông Lê Thanh Toàn
Bà Trần Thị Thu Hằng
Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Tuyết Hạnh là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang: Bà Hà Ngọc Thư Trúc - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang.
Trong các ngày 25 và 31 tháng 7 năm 2018 tại Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 131/2018/TLPT– DS ngày 14 tháng 6 năm 2018 về việc tranh chấp “Quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 63/2018/DS-ST ngày 20 tháng 4 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện CB, tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 186/2018/QĐ-PT ngày 14 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
1.1. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1962; (có mặt)
Địa chỉ: ấp TL, x TP, huyện CL, tỉnh Tiền Giang.
1.2. Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1930; (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp P, x K, huyện CB, tỉnh TG.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1971; (có mặt)
Địa chỉ: ấp P, x K, huyện CB, tỉnh Tiền Giang.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1960; (có mặt)
Địa chỉ: ấp P, x MB, huyện CB, tỉnh Tiền Giang.
3.2. Ông Phan Văn P1, sinh năm 1951;
3.3. Anh Phan Văn P2, sinh năm 1985;
3.4. Anh Phan Anh P3, sinh năm 1983;
3.5. Anh Phan Anh P4, sinh năm 1987;
C ng địa chỉ: ấp TL, x TP, huyện CL, tỉnh Tiền Giang.
Ông P1, anh P2, anh P3, anh P4 c ng ủy quyền cho bà Nguyễn Thị H; (có mặt)
3.6. Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1962; (vắng mặt)
3.7. Bà Võ Thị Đ, sinh năm 1961;
3.8. Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1985;
3.9. Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1987;
C ng địa chỉ: ấp P, x K, huyện CB, tỉnh Tiền Giang.
Bà Đ, anh K, anh V ủy quyền cho ông Nguyễn Văn N; (vắng mặt)
3.10. Chị Nguyễn Thị Cẩm T, sinh năm 1972;
Địa chỉ: ấp P, x K, huyện CB, tỉnh Tiền Giang.
Chị Nguyễn Thị Cẩm T ủy quyền cho anh Nguyễn Văn T; (có mặt)
3.11. Bà Lê Thị G, sinh năm 1932;
3.12. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1965;
C ng địa chỉ: ấp HP, x HK, huyện CB, tỉnh Tiền Giang.
Bà G, bà ủy quyền cho ông Nguyễn Văn N; (vắng mặt)
4. Người kháng cáo: Nguyên đơn Nguyễn Thị H.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Nguyên đ n bà Nguy n Th H trình bày: Bà đ ng tên quyền sử dụng đất thửa đất 1018, tờ bản đ KC5, diện t ch 4.140m2 tọa lạc ấp HP, x K, huyện CB, tỉnh TG. Ph a Nam đất bà giáp v i đất anh Nguyễn Văn T là thửa 879, diện t ch 2.896m2. Năm 2013 được cấp lại giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất diện t ch 2.354m2. Ông T lấn chiếm đất của bà g m 03 đoạn:
Đoạn 1: T rạch Bà uê vào ngang ph a trư c 1,6m, ngang ph a sau 0,7m, dài 35m, diện t ch 40,25m2.
Đoạn 2: ngang 0,7m, dài 26m, diện t ch 18,2m2.
Đoạn 3: ngang ph a trư c 0,7m, ngang ph a sau 2m, dài 22m, diện t ch 29,7m2.
Như v y ph a anh Tuấn lấn chiếm của bà 88,15m2 đất. Bà yêu c u anh Tuấn phải trả lại cho bà ph n đất lấn chiếm 88,15m2.
Việc cụ N rút yêu c u kh i kiện của m nh bà không có ý kiến.
Tại phiên tòa bà yêu c u anh T trả bà diện t ch 82,8m2 đất lấn chiếm, anh T phải d trụ đá, hàng rào trả lại đất cho bà.
* Nguyên đ n cụ Nguy n Văn N trình bày: Ngày 22/6/2011 cụ có kh i kiện anh T yêu c u trả ph n đất lấn chiếm ngang 0,6m, dài 30,5m. Sau đó vụ án được Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm và đ có hiệu lực. iện tại cụ đ chuyển nhượng ph n đất cho người khác r i nên xin rút lại yêu c u kh i kiện trư c đây. Đối v i tiền án ph trư c đây cụ không có yêu c u g .
* B đ n anh Nguy n Văn T trình bày: Trư c đây cụ N và bà có kh i kiện cho r ng anh lấn chiếm đất. Qua xét xử cấp sơ thẩm và phúc thẩm không chấp nh n yêu c u kh i kiện của cụ N, bà và xác định ranh gi i giữa các bên xong. nh c ng được cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất m i diện t ch 2.354m2. Nay Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy án sơ thẩm và phúc thẩm th anh v n xác định không có lấn chiếm đất của bà , đề nghị giữ nguyên hiện trạng đất như cấp sơ thẩm và phúc thẩm đ xử. Đối v i việc cụ N rút yêu c u kh i kiện anh không có ý kiến g .
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguy n Văn N trình bày: Thửa đất 1018 diện t ch 4.140m2 do bà à đ ng tên quyền sử dụng đất nhưng hiện tại ông đang canh tác. Ông đ ng ý v i yêu c u kh i kiện của bà . Việc cha ông là cụ N rút yêu c u kh i kiện ông không có ý kiến g .
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và đại diện h gia đình ông Nguy n Văn N trình bày: Ph n đất tranh chấp giữa bà và anh T trư c đây do m là Phạm Thị M đ ng tên. Năm 1997 khi m qua đời để lại ph n đất trên cho anh T. Ph n đất giáp v i đất bà (trư c đây là ông T) có ranh gi i r ràng. T nh t rạch Bà uê vào chia làm 03 đoạn:
Đoạn 1 dài 05m, ngang 01m t sông vào bà à lấp thành đê bao.
Đoạn 2 là cái đ a dài 10m, r ng 4m do em chủ đất đào trư c năm 1975.
Đoạn 3 là đường nư c t đ a dài 5m, r ng 0,5m chạy dài là hàng dâm bụt d n đến cuối đất.
T năm 1998 bà sang đất, đường d n nư c vào đ a bà đ lấp và hàng dâm bụt đào thành con mương đến cuối đất. Năm 2006 ông bắt c u xi măng r ng 1m, dài 12m, mép ngoài c u là ranh chung, v a qua c u là nhà ông có lối đi 04 tấc cặp theo nhà, đ u cái đ a có 01 cây quao, cuối đ a c ng có 01 cây quao nhưng bà đ chặt. Qua thời gian lối đi đ l xuống đ a. Ông không đ ng ý yêu c u kh i kiện của bà . Việc rút đơn kh i kiện của cụ N ông không có ý kiến g .
Bản án dân sự sơ thẩm số 63/2018/DS-ST ngày 20 tháng 4 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện CB, tỉnh Tiền Giang đ quyết định:
Căn c vào Điều 147, 227, 228, 244 B u t tố tụng dân sự; Điều 265, 688 B u t dân sự năm 2005; Điều 688 B lu t dân sự 2015; Pháp lệnh án ph , lệ ph Tòa án năm 2009; Nghị quyết 326/2016/ BTVQ 14 ngày 30/12/2016.
- Đ nh chỉ xét xử toàn b yêu c u kh i kiện của cụ Nguyễn Văn N.
- Không chấp nh n yêu c u kh i kiện của bà Nguyễn Thị yêu c u anh Nguyễn Văn T trả diện t ch 82,8m2 đất lấn chiếm.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu án ph , quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định pháp lu t.
Ngày 27 tháng 4 năm 2018, nguyên đơn bà Nguyễn Thị có đơn kháng cáo yêu c u Tòa án cấp phúc thẩm sửa toàn b bản án sơ thẩm số 63/2018/DSST ngày 20/4/2018 của Tòa án nhân dân huyện CB theo hư ng chấp nh n toàn b yêu c u kh i kiện của bà.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Nguyễn Thị v n giữ nguyên yêu c u kháng cáo, đề nghị i đ ng xét xử bu c ông T trả cho bà ph n đất lấn chiếm có diện t ch là 82,8m2; Ông T không đ ng ý v i yêu c u kháng cáo của bà , đề nghị
i đ ng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm; Ông N thống nhất v i yêu c u kháng cáo của bà . Các đương sự không thỏa thu n được về việc giải quyết toàn b n i dung vụ án.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Việc tuân theo pháp lu t tố tụng, trong quá tr nh giải quyết của Thẩm phán, i đ ng xét xử, việc chấp hành pháp lu t của người tham gia tố tụng kể t khi thụ lý vụ án cho đến trư c thời điểm
i đ ng xét xử nghị án đều tuân thủ đúng qui định pháp lu t, Kiểm sát viên không kiến nghị g . Về n i dung, án sơ thẩm thu th p ch ng c chưa đ y đủ d n đến giải quyết n i dung sai lệch làm ảnh hư ng đến quyền lợi của đương sự, để đảm bảo hai cấp xét xử c n hủy án sơ thẩm. Do đề nghị hủy án sơ thẩm nên chưa xem xét đến kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Thị H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên c u toàn b tài liệu có trong h sơ vụ kiện, yêu c u kháng cáo của bà Nguyễn Thị , nghe đương sự tr nh bày thêm tại phiên tòa phúc thẩm, qua tranh lu n và ý kiến phát biểu của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang.
Xét đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị yêu c u Tòa án nhân dân tỉnh Tiền G xem xét lại bản án sơ thẩm theo hư ng chấp nh n toàn b yêu c u kh i kiện của bà, bu c ông T trả lại cho bà ph n diện t ch đất lấn chiếm là 82,8m2.
i đ ng xét xử nh n định:
Xét về ngu n gốc đất, đất của bà chuyển nhượng qua nhiều chủ c không có đo đạc, không ký t cạnh giáp ranh, không có giấy tờ mua bán chỉ là lời khai của các đương sự nên không ch nh xác vị tr và diện t ch đất. Tuy nhiên căn c vào vị tr đất thực tế, xác nh n của cơ quan có thẩm quyền cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất th diện t ch đất của bà Nguyễn Thị có ngu n gốc đất của ông Đỗ Văn T thửa 177, 178 có diện t ch là 1.719m2, ông T chuyển nhượng cho ông A và bà L, sau đó ông A và bà chuyển nhượng lại cho bà Nguyễn Thị . Bà được cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất v i diện t ch 4.140m2, đo đạc thực tế là 4.052,6m2. Sau khi bà được cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất th c ng không có phản đối hay khiếu nại g . Như v y căn c vào giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất được cấp th đất bà thiếu nhưng n m trong sai số cho phép. Theo công văn số 142/TN&MT ngày 30/3/2012 của Phòng tài nguyên và Môi trường huyện CB th ngu n gốc thửa đất số 176 của ông Nguyễn Văn T theo số liệu 299/TTg là 2.013m2, diện t ch được cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất là 2.896m2 (hiện nay đo đạc thực tế là 2.252,6m2) hai số liệu này đều dựa vào bản đ không ảnh, đ che phủ của vườn cây nhiều, không thể hiện r ranh gi i. Việc t nh toán diện t ch dựa vào phim lư i ô vuông, ư c đọc số nên d n đến chênh lệch. Tại văn bản trả lời số 2243/ BND ngày 20/9/2017 của Ủy ban nhân dân huyện CB th h ông Nguyễn Văn T được cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất thửa 879 diện t ch 2.896m2, thửa đất trên thời điểm năm 2001 BND cấp cho h ông T trên cơ s xét duyệt cấp l n đ u theo số liệu bản đ 364 được thông qua b i i đ ng xét duyệt cấp GCN-QSDĐ x HK cho 577 h trong đó có h ông T. Việc chênh lệch diện t ch ghi trên GCN-QSDĐ của h ông T tại thời điểm năm 2001 và diện t ch đo đạc ngày 25/10/2011 là do đo đạc theo hiện trạng thực tế. Sự chênh lệch diện t ch đất giữa diện t ch ghi trong giấy ch ng nh n QSDĐ là 2.896m2 và diện t ch đo đạc thực tế là 2.252,6m2 theo tr ch đo địa ch nh ngày 25/10/2011 của thửa 879 là do bản đ địa ch nh tỉ lệ 1/5000 trư c đây đo đ t nh sai diện t ch (theo hư ng d n tại công văn số 1144/VPĐKĐĐ ngày 21/7/2017 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh).
Việc các bên tranh chấp ph n diện t ch đất 82,8m2, trư c đây là đường đi chung cho các h ph a trong và bà . iện tại th bà c ng các h ph a trong khác không còn d ng lối đi này nữa do đ có lối đi khác. iện tại trên ph n đất tranh chấp ông T đ tr ng các cây trái lâu năm và có m t căn nhà của anh N (anh của ông T) đang (cây trái và nhà theo biên bản định giá ngày 14/7/2017). Bà cho r ng ph n diện t ch đất tranh chấp là lối đi chung của bà và ông Tuấn mỗi người ½ nhưng bà à không có ch ng c g để ch ng minh cho lời tr nh bày này, do lời khai này c ng không được ph a ông T th a nh n. Mặt khác, tại biên bản hòa giải tại ấp HP ngày 08/01/2009 th t p thể có ý kiến đất của bà Nguyễn Thị đến hết con mương, còn trên bờ là đất của ông Nguyễn Văn T có ch a lối đi; Trên lối đi này ông Nguyễn Văn T đ cất mái hiên và lót sân xi măng sử dụng t lâu nhưng các bên không có tranh chấp nên có căn c xác định ph n đất tranh chấp là của ông Nguyễn Văn T. ơn nữa, hiện tại ph n diện t ch đất của bà đ chuyển nhượng cho ông N, ph n diện t ch đất tranh chấp ông N c ng không sử dụng làm lối đi v đ có lối đi khác, trên ph n đất tranh chấp anh N đ cất nhà nên c ng không còn sử dụng làm lối đi nữa, đo đó đây chỉ là việc tranh chấp quyền sử dụng đất ch không phải nhu c u cấp thiết về lối đi nữa.
Quyết định giám đốc thẩm số 259/2016/DS-GĐT ngày 25/10/2016 của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại TP. Ch Minh tuyên hủy án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện CB; ủy án phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh tiền giang. Giao h sơ vụ án cho huyện CB, tỉnh tiền Giang xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm. Nhưng h sơ lại chuyển cho Tòa án huyện CB giải quyết là không đúng qui định pháp lu t theo như bài phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm. Xét thấy đây là vụ kiện thu c thẩm quyền giải quyết của Tòa án và đương sự đang có đơn kh i kiện tại Tòa, nên Tòa án nhân dân huyện CB thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền. Do sơ suất trong khâu đánh máy thiếu chữ Tòa án ch không xem là chưa ph hợp qui định pháp lu t như đề nghị của Kiểm sát viên.
Theo kết quả đo đạc số liệu hai thửa đất của ông T và bà vào ngày 25/10/2011 và năm 2017 có chênh lệch nhau nhưng không đáng kể n m trong sai số cho phép, do hai thửa đất có hư ng Tây giáp con kênh công c ng, và các đương sự chỉ ranh nên khi đo đạc hai thời điểm cách nhau hơn 06 năm th số liệu không thể ch nh xác t ng cm được. ơn nữa việc đo đạc là của cơ quan chuyên môn, số liệu đ r ràng, các đương sự có yêu c u đo đạc nhưng đều thống nhất số liệu không có ý kiến g . Do đó không c n thiết phải làm r lý do v sao đo đạc hai l n mà số liệu có khác nhau theo đề nghị của Kiểm sát viên.
Tại biên bản ghi lời khai của đương sự Nguyễn Văn N ngày 29/5/2017, tại trụ s Tòa án nhân dân huyện CB, ông N tr nh bày xin được rút toàn b yêu c u kh i kiện đối v i ông T do ph n đất này ông đ chuyển nhượng cho người khác r i nên không tranh chấp nữa, đây c ng là sự tự nguyện của ông N. Do đó c ng không c n thiết ông N phải làm thêm m t cái đơn xin rút yêu c u kh i kiện nữa như đề nghị của Kiểm sát viên.
Về ph n án ph mà bà phải n p, vụ kiện dân sự này bà kh i kiện ngày 22/6/2011, do đó án ph dân sự sơ thẩm không có giá ngạch mà bà phải chịu là 200.000 đ ng. Tại Công văn số 250/CCT DS ngày 26/4/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện CB xác nh n đ tr ch chuyển xong các khoản tạm ng án ph của bà n p, cụ thể bà có n p thêm số tiền là 334.000 đ ng. Do đó c n cấn tr thêm số tiền 334.000 đ ng mà bà đ n p thêm. Án sơ thẩm t nh cấn tr số tiền 534.000 đ ng cho bà là chưa đúng, c n sửa lại cho đúng.
T các cơ s nh n định trên, i đ ng xét xử không chấp nh n yêu c u kháng cáo của bà Nguyễn Thị , sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện CB về ph n án ph .
Ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang chưa ph hợp v i nh n định trên của i đ ng xét xử nên không được chấp nh n.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn c khoản 2 Điều 308; Điều 309 B lu t Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn c các Điều 265, Điều 688 của B lu t Dân sự năm 2005; Pháp lệnh án ph , lệ ph Tòa án năm 2009; Nghị quyết số 326/2016/ BTVQ 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc h i.
Không chấp nh n yêu c u kháng cáo của bà Nguyễn Thị , sửa bản án dân sự sơ thẩm số 63/2018/DS-ST ngày 20 tháng 4 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện CB về ph n án ph .
- Đ nh chỉ xét xử toàn b yêu c u kh i kiện của cụ Nguyễn Văn N.
- Không chấp nh n yêu c u kh i kiện của bà Nguyễn Thị về việc đòi ông Nguyễn Văn T trả diện t ch 82,8m2 đất lấn chiếm.
- Về án ph :
oàn lại cho cụ Nguyễn Văn N số tiền 400.000 đ ng tạm ng án ph đ n p theo biên lai thu số 002866 ngày 22/6/2011 và biên lai số 004548 ngày 18/9/2012 của Chi cục thi hành án dân sự huyện CB.
Bà Nguyễn Thị phải chịu 200.000 đ ng án ph dân sự sơ thẩm và 300.000 đ ng án ph dân sự phúc thẩm. Được tr số tiền tạm ng án ph đ n p là 700.000 đ ng theo các biên lai thu số 002865 ngày 22/6/2011, biên lai số 004549 ngày 18/9/2012, biên lai số 08584 ngày 27/4/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện CB và số tiền bà đ n p 334.000 đ ng (theo công văn số 250/CCT DS ngày 26/4/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện CB), nên bà còn được hoàn lại số tiền là 534.000 đ ng.
Trường hợp bản án, quyết đ nh được thi hành theo quy đ nh tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy đ nh tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp lu t kể t ngày tuyên án.
Án tuyên vào lúc 8 giờ 30 phút ngày 31/7/2018, có mặt các bên đương sự.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại TP. Ch Minh; - VKSND tỉnh Tiền Giang; - T ND huyện CB; - Chi cục T DS huyện CB; - Các đương sự; - ưu h sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Võ Thị Thu Thúy |