vanban.org

Bản án 262/HSST — Hình sự

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 13/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bùi Ngọc H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Bùi Ngọc H 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/4/2017. Tịch thu tiêu hủy: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Ngọc H - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Ngọc H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 144/2016/QH13 Về lùi hiệu lực thi hành của Bộ…; Điều 194 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 262/2017/HSST.
Ngày: 13/9/2017.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đoàn Văn Rỹ

2. Bà Võ Thị Thanh Ngọc

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Trần Ngọc Tuyền, Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 8.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Vân, Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 13 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8 Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 268/2017/HSST ngày 14 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo:

Bùi Ngọc H; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1968 tại: Sài Gòn; Hộ khẩu thường trú: 516/14/6 ND, Phường F, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 029 Lô E Chung cư HP, Phường F, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Con ông Bùi Văn V (Chết) và bà Bùi Thị Ng (Chết); Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 23/3/1992 bị Công an Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh bắt về tội “Cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản của công dân”. Ngày 10/7/1992 bị Tòa án nhân dân Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án (Bản án số: 167/HSST). Đối với án phí hình sự sơ thẩm Chi cục thi hành án dân sự Quận Z chưa thụ lý; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/4/2017 cho đến nay (Có mặt).

Người làm chứng:

1. Ông Lâm Văn S, sinh năm: 1951; Chỗ ở: 860/1 HP, Phường X, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

2. Ông Nguyễn Hoàng H, sinh năm: 1958; Chỗ ở: 654/7/2 HP, Phường Z, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NHẬN THẤY:

Bị cáo Bùi Ngọc H bị Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 truy tố hành vi phạm tội như sau:

Vào lúc 19 giờ 45 phút ngày 28/4/2017, tại trước nhà số 003 Lô E, chung cư HP, Phường Z, Quận A, Công an Phường Z, Quận A nghi vấn Bùi Ngọc H liên quan đến ma túy nên kiểm tra, phát hiện thu giữ trên tay trái của H 01 gói giấy bên trong có 01 gói nylon chứa ma túy. Tạm giữ của H 01 điện thoại di động Nokia gắn sim số 0938.133.851, 200.000 đồng. Lúc này, H khai tại nhà số 029 Lô E chung cư HP, Phường Z, Quận A (nơi ở của H) H còn cất giấu ma túy nên Công an tiến hành kiểm tra, H lấy ra 05 gói nylon chứa ma túy giao nộp. Sau đó, Công an đưa H cùng vật chứng về trụ sở Công an Phường Z, Quận A lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận A để điều tra làm rõ.

Theo bản Kết luận giám định số 877/KLGĐ-H ngày 16/5/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

02 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Bùi Ngọc H và hình dấu Công an Phường Z, Quận A gửi đến giám định, bên trong có:

- Gói 1: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon bên trong 01 gói giấy là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2290g (không phẩy hai hai chín không gram), loại Methamphetamine.

- Gói 2: Tinh thể không màu trong 05 gói nylon là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,3346g (một phẩy ba ba bốn sáu gram), loại Methamphetamine.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8, Bùi Ngọc H khai nhận: Khoảng 10 giờ ngày 28/4/2017, H thuê người lái xe ôm của người đàn ông (không rõ lai lịch) đến đầu hẻm gần quán Ba Cây Dừa Phường X, Quận A thì xuống xe và kêu người lái xe ôm đứng chờ. H đi bộ vào trong hẻm gặp đối tượng tên C (không rõ lai lịch) hỏi mua 700.000 đồng ma túy tổng hợp, C đồng ý bán. H đưa tiền cho C và đứng đợi, khoảng 5 phút sau C quay ra bán cho H 06 gói nylon chứa ma túy tổng hợp. Cầm ma túy H ra đầu hẻm để người lái xe ôm chở H về nhà số 029 Lô E chung cư HP, Phường Z, Quận A; H lên gác để 06 gói ma túy trên bàn. Khoảng 19 giờ cùng ngày, tại trước số 003 Lô F chung cư HP, Phường Z, Quận A H gặp người bạn tên H (không rõ lai lịch), H xin H ma túy để sử dụng, H đồng ý kêu H đứng chờ. H đi bộ về nhà số 029 Lô E chung cư HP, Phường Z, Quận A lấy 01 gói ma túy chiết ra một ít sử dụng rồi hàn kín gói ma túy lại và cầm đưa cho H. Vào lúc 19 giờ 45 phút cùng ngày, H đến trước số 003 lô F chung cư HP, Phường Z, Quận A chuẩn bị đưa ma túy cho H thì bị Công an Phường Z, Quận A phát hiện thu giữ như trên. Sau đó H khai nhận còn cất giữ ma túy tại nhà số 029 Lô E chung cư HP, Phường Z, Quận A nên Công an dẫn giải H về nhà, H lấy 05 gói nylon chứa ma túy giao nộp cho Công an Phường Z, Quận A. Đối với H trong lúc Công an kiểm tra thu giữ ma túy của H, H1 đã bỏ chạy thoát.

Vật chứng vụ án:

- 01 gói niêm phong số 877 (gói 1), 01 gói niêm phong số 877 (gói 2) đều có chữ ký ghi tên Bùi Ngọc H, hình dấu Công an phường Z, Quận A và chữ ký giám định viên Lê Tấn Đ.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, gắn sim số 0938133851, số IMEI: 356996/04/051892/9.

- 200.000 đồng tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam (Giấy nộp tiền vào tài khoản).

Tại bản Cáo trạng số 256/CT-VKS ngày 08 tháng 8 năm 2017 Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Bùi Ngọc H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ quan điểm truy tố bị cáo Bùi Ngọc H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009) và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009); Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo từ 02 năm tù đến 03 năm tù.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên Tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, người làm chứng, bị cáo,

XÉT THẤY:

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo khai nhận hành vi của mình như đã nêu trên, phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra, người làm chứng; tang vật đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ, xác định Bùi Ngọc H có hành vi tàng trữ trong người và tại nhà số 029 Lô E chung cư HP, Phường Z, Quận A 06 gói ma túy, mục đích để sử dụng. Theo Kết luận giám định số 877/KLGĐ-H ngày 16/5/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh thì số ma túy thu giữ của Bùi Ngọc H:

- Gói 1: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon bên trong 01 gói giấy là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2290g (không phẩy hai hai chín không gram), loại Methamphetamine.

- Gói 2: Tinh thể không màu trong 05 gói nylon là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,3346g (một phẩy ba ba bốn sáu gram), loại Methamphetamine.

Do đó Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ xác định bị cáo Bùi Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án này là cố ý. Bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy là nguy hiểm, đã xâm phạm đến trật tự chung, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý nhà nước đối với các chất ma túy, gây ra tác hại rất lớn về nhiều mặt cho xã hội. Xét về nhân thân, năm 1992 bị cáo bị Tòa án nhân dân Quận X xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội cướp giật tài sản, mặc dù đã được xóa án tích nhưng cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt, do đó Hội đồng xét xử thấy cần thiết xử phạt mức án nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục các bị cáo sớm trở thành công dân tốt, làm ăn lương thiện khi hòa nhập cộng đồng, nhằm đảm bảo mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó áp dụng điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra theo nội dung Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội về việc lùi hiệu lực của Bộ luật Hình sự năm 2015 và hướng dẫn áp dụng một số quy định có lợi cho người phạm tội. Tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) quy định mức hình phạt từ 02 đến 07 năm tù, tuy nhiên theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì chỉ quy định mức hình phạt từ 01 đến 05 năm đối với tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xem xét để áp dụng cho bị cáo.

Vật chứng vụ án:

- 01 gói niêm phong số 877 (gói 1), 01 gói niêm phong số 877 (gói 2) đều có chữ ký ghi tên Bùi Ngọc H, hình dấu Côn an phường Z, Quận A và chữ ký giám định viên Lê Tấn Đ, xét là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, gắn sim số 0938133851, số IMEI: 356996/04/051892/9, xét không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại bị cáo.

- 200.000 đồng tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam (Giấy nộp tiền vào tài khoản), xét là tiền bị cáo dùng để mua ma túy nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với đối tượng tên C và đối tượng tên H1 qua xác minh hiện không rõ lai lịch địa chỉ, Công an Quận 8 đang tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào đủ căn cứ xử lý sau.

Đối với căn nhà số 29 Lô E chung cư Hưng Phú, Phường 10, Quận 8 qua xác minh do chị Bùi Thị N (chị ruột Bùi Ngọc H) đứng tên chủ sở hữu. Chị N không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của Bùi Ngọc H nên không có cơ sở xử lý hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Bùi Ngọc H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

- Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009); Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội về việc lùi hiệu lực của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Bùi Ngọc H 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/4/2017.

- Áp dụng khoản 1; điểm a, c khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 gói niêm phong số 877 (gói 1), 01 gói niêm phong số 877 (gói 2) đều có chữ ký ghi tên Bùi Ngọc H, hình dấu Công an phường Z, Quận A và chữ ký giám định viên Lê Tấn Đức.

Trả lại bị cáo:

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, gắn sim số 0938133851, số IMEI: 356996/04/051892/9.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước:

- 200.000 đồng tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam (Giấy nộp tiền vào tài khoản).

(Tất cả theo Phiếu nhập kho vật chứng số 192/PNK ngày 07/8/2017 của Công an Quận 8).

- Áp dụng Điều 98, 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.

Buộc bị cáo Bùi Ngọc H nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ