- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Phú T - phạm tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (điều 145 Luật sửa đổi,…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Phú T phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯ Bản án số: 262/2024/HS-ST Ngày: 07/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Lưu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Tiến Dũng – Nguyên Giáo viên.
2. Bà Bùi Thị Phụng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hoa – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 06 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức (địa chỉ: số A đường số F, khu phố E, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh), xét xử kín sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 248/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 289/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Đặng Phú T, sinh năm 2005; Giới tính: Nam; Căn cước công dân số: 079205011824; nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: số A đường D, tổ B, khu phố E, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện tại: số A đường D, tổ B, khu phố E, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; Nghề nghiệp: Thợ cắt tóc; Con ông Đặng Phú Q và bà Hoàng Thụy Phương T1; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không;
Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).
- Bị hại: Trẻ Phan Lê Cát T2, sinh ngày 01/01/2010 (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của trẻ Phan Lê Cát T2: Bà Lê Thị N, sinh năm 1987 – là mẹ ruột của trẻ Phan Lê Cát T2 (có đơn xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: số G đường B, khu phố C, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ Phan Lê Cát T2: Bà Nguyễn Thị H – Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố H (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1] Đặng Phú T và cháu Phan Lê Cát T2 (sinh ngày 01/01/2010) có quan hệ tình cảm với nhau, trong thời gian quen nhau, T và cháu T2 đã nhiều lần quan hệ tình dục với nhau, cụ thể như sau:
Lần thứ 1: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 30/9/2023 T điều khiển xe mô tô biển số 59X4-153.23 đến nhà cháu T2 chở cháu T2 đi chơi, sau đó khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, T rủ cháu T2 thuê khách sạn để ở và quan hệ tình dục thì cháu T2 đồng ý. T thuê phòng số 305 khách sạn H1, địa chỉ số H, đường số B, Khu phố D, phường P, thành phố T. Tại đây, T và cháu T2 quan hệ tình dục với nhau sau đó T xuất tinh ra ngoài. Đến sáng ngày 01/10/2023, T đi làm việc còn cháu T2 ở lại khách sạn đến 20 giờ ngày 01/10/2023, T quay lại khách sạn H1 trả tiền thuê phòng và đón cháu T2 đi chơi.
Lần thứ 2: Sau khi trả phòng tại khách sạn H1, T tiếp tục chở cháu T2 đi chơi đến 22 giờ ngày 01/10/2023, T đưa cháu T2 đến thuê Phòng số 105, khách sạn H2, tại địa chỉ số A D, Khu phố F, phường P, thành phố T để ở. Tại đây, T tiếp tục quan hệ tình dục với cháu T2 02 lần rồi xuất tinh ra ngoài, sau đó cả hai nằm ngủ đến đến 14 giờ ngày 02/10/2023, T đi làm còn cháu T2 tiếp tục ngủ tại khách sạn. Đến 16 giờ cùng ngày T2 trả phòng khách sạn, lấy căn cước công dân của T rồi đi xe ôm đến chỗ T làm việc đưa căn cước công dân cho T, sau đó T2 về nhà mình tại phường B, thành phố T.
Sau khi cháu T2 về nhà, chị Lê Thị N là mẹ cháu T2 phát hiện trên ngực của T2 có nhiều vết thâm bầm nên gặng hỏi thì cháu T2 khai nhận toàn bộ sự việc quan hệ tình dục với T như đã nêu ở trên.
Đến sáng ngày 03/10/2023, chị N dẫn cháu T2 đến Công an phường B, thành phố T trình báo sự việc, sau đó Công an phường B chuyển toàn bộ nội dung vụ việc cho Công an phường P, thành phố T thụ lý giải quyết.
Cơ quan điều tra tiến hành đưa Đặng Phú T về làm việc, tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T, Đặng Phú T khai nhận toàn bộ hành vi quan hệ tình dục với cháu T2 như nêu trên.
Tại bản kết luận giám định xâm hại tình dục ở trẻ em số 167/KL-TDTE-TTPY.2023 ngày 23/10/2023 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế Thành phố H kết luận:
+ Màng trinh: Dãn, không rách;
+ Không thấy tinh trùng trong dịch phết âm đạo, vùng âm hộ và hậu môn;
+ Hiện diện ADN của người nam trong dịch phết: vùng hậu môn, đủ cơ sở so sánh với ADN của đối tượng; âm đạo và vùng âm hộ, đủ cơ sở sơ sánh với ADN nhiễm sắc thể Y của đối tượng;
Tại bản kết luận giám định ADN số 1.272A-2023/KLGDADN-TTPY ngày 09/11/2023 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế Thành phố H kết luận: Hồ sơ ADN nhiễm sắc thể Y của Đặng Phú T trùng khớp với ADN nhiễm sắc thể Y hiện diện trong mẫu phết dịch âm đạo của Phan Lê Cát T2; ADN của Đặng Phú T có hiện diện trong mẫu phết vùng hậu môn của Phan Lê Cát T2.
Bản sao giấy khai sinh của cháu Phan Lê Cát T2 sinh ngày 01/01/2010. Như vậy, tại thời điểm Đặng Phú T quan hệ tình dục với cháu T2 thì cháu T2 được 13 tuổi 10 tháng 00 ngày.
Vật chứng thu giữ:
- 01 điện thoại di động hiệu S A23 màu đen (thu giữ của T);
- 01 quần Jean màu xám hiệu có chữ Tommy; 01 áo thun màu đen có chữ Levents; 01 quần lót nam màu xanh có chữ Okcok (thu giữ của T);
- 01 quần Jean màu đen có chữ Chanel; 01 áo thun màu đen; 01 áo lót ngực màu sáng; 01 quần lót nữ màu sáng;
- 01 (một) USB và 01 (một) đĩa DVD có chứa dữ liệu là 02 đoạn video ghi nhận hình ảnh Đặng Phú T và cháu Phan Lê Cát T2 thuê phòng tại khách sạn H1 và khách sạn H2.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Lê Thị N là mẹ của cháu Phan Lê Cát T2 không yêu cầu bị cáo bồi thường và có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho cho Đặng Phú T.
[2] Bản cáo trạng số 231/CT-VKSTĐ ngày 25/04/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Đặng Phú T về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo điểm a Khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[3] Tại phiên tòa:
- Bị cáo Đặng Phú T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Đặng Phú T phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo điểm a Khoản 2 Điều 145 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo Đặng Phú T với mức án từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.
Về vật chứng và trách nhiệm dân sự đề nghị Hội đồng xét xử xử lý đúng theo quy định của pháp luật.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trẻ Phan Lê Cát T2 trình bày: Thống nhất với tội danh, điều khoản áp dụng truy tố đối với bị cáo mà Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã đưa ra tại phiên tòa. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra qua bản ảnh cũng như kết luận đã nêu trong bản kết luận giám định xâm hại tình dục ở trẻ em cần áp dụng tình tiết bị cáo phạm tội vì động cơ đê hèn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia tranh luận với nội dung: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, kết luận giám định, cùng các tài liệu chứng cứ khác do cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ của vụ án nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thật thà khai báo, ăn năn hối cải. Đối với những vết bầm tím trên cơ thể của bị hại là kết quả của sự khoái cảm của giới trẻ khi yêu nên không có cơ sở kết luận bị cáo phạm tội vì động cơ đê hèn.
- Bị cáo Đặng Phú T không có ý kiến tranh luận, bào chữa gì và bị cáo nói lời sau cùng xin lỗi bị hại, tỏ thái độ ăn năn, hối hận và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, kết luận giám định, cùng các tài liệu chứng cứ khác do cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định:
Từ ngày 30/9/2023 đến ngày 02/10/2023, Đặng Phú T đã 03 (ba) lần thực hiện hành vi quan hệ tình dục với cháu Phan Lê Cát T2, sinh ngày 01/01/2010, tại phòng 305 khách sạn H1, địa chỉ số H đường B, khu phố D, phường P, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh và phòng số 105 khách sạn H2, địa chỉ số A D, khu phố H, phường P, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh.
Hành vi bị cáo Đặng Phú T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến sự phát triển bình thường về thể chất và tâm sinh lý của trẻ em được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Vì vậy cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra nhằm mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm, đặc biệt trong tình hình hiện nay tội phạm xâm phạm tình dục trẻ em đang có chiều hướng gia tăng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Ý kiến tranh luận của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại không phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
Về xử lý vật chứng:
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A23 màu đen, Hội đồng xét xử tịch thu, nộp ngân sách nhà nước;
- 01 quần Jean màu xám hiệu có chữ Tommy; 01 áo thun màu đen có chữ Levents; 01 quần lót nam màu xanh có chữ Okcok; 01 quần Jean màu đen có chữ Chanel; 01 áo thun màu đen; 01 áo lót ngực màu sáng; 01 quần lót nữ màu sáng, Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy;
- 01 (một) USB và 01 (một) đĩa DVD có chứa dữ liệu là 02 đoạn video ghi nhận hình ảnh Đặng Phú T và cháu Phan Lê Cát T2 thuê phòng tại khách sạn H1 và khách sạn H2, là chứng cứ trực tiếp nên cần được lưu vào trong hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Lê Thị N, là người đại diện hợp pháp của trẻ Phan Lê Cát T2 có đơn bãi nại và không yêu cầu bị cáo bồi thường, nên Hội đồng xét xử ghi nhận, không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Đặng Phú T phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
2. Áp dụng áp dụng điểm a Khoản 2 Điều 145; điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Đặng Phú T 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ngày bắt thi hành án.
3. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A23 màu đen;
- Tịch thu tiêu hủy: 01 quần Jean màu xám hiệu có chữ Tommy; 01 áo thun màu đen có chữ Levents; 01 quần lót nam màu xanh có chữ Okcok; 01 quần Jean màu đen có chữ Chanel; 01 áo thun màu đen; 01 áo lót ngực màu sáng; 01 quần lót nữ màu sáng.
(Theo Phiếu nhập kho số NK24/279C ngày 24/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).
4. Án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Đặng Phú T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.
5. Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Án xử kín tuyên án công khai theo thủ tục sơ thẩm. Bị cáo Đặng Phú T, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ Phan Lê Cát T2 có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Người đại diện trẻ Phan Lê Cát T2 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND TP . HCM; - Sở Tư pháp TP . HCM; - VKSND TP. Hồ Chí Minh; - VKSND Tp. Thủ Đức; - Cơ quan CSĐT Công an Tp. Thủ Đức; - Nhà tạm giữ Công an Tp. Thủ Đức; - Cơ quan THA.HS Công an Tp. Thủ Đức; - Chi cục THA.DS Tp. Thủ Đức; - Bị cáo; người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ, VT. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Quốc Lưu |