vanban.org

Bản án 262/2023/HSST — Hình sự

TAND Q. Hoàng Mai, TP. Hà Nội Tuyên án 26/10/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến V 20 ( Hai mươi ) tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma tuý” thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 26/6/2023 Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

Xử phạt bị cáo Phùng Xuân T 20 ( Hai mươi ) tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma tuý” thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 26/6/2023 Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Xử phạt bị cáo Nguyễn T G 30 ( Ba mươi) tháng tù về tội “ mua bán trái phép chất ma tuý” thời hạn tù tính từ ngày bị b… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến V 20 ( Hai mươi ) tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma tuý” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điề…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến V 20 ( Hai mươi ) tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma tuý” thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 26/6/2023 Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
Toµ ¸n nh©n d©n
QuËn hoang mai
Thµnh phè Hµ néi
-----------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 262/2023/HSST
Ngày 26 tháng 10 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thuý Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Lương

2. Bà Tạ Thị Thà

-Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Duy Trung - Thư ký Toà án nhân dân

quận Hoàng Mai– Thành phố Hà Nội.

-Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Nguyệt Ánh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 10 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai - Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 280 /2023/ TL – HSST ngày 10 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 264 /QĐXX – ST ngày 11/10/2023 đối với các bị cáo:

-Nguyễn T G - sinh năm: 1981; Tên gọi khác: Không; HKTT: Số 52 B.T.X, phường N.D, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội; Chỗ ở: Số 30. ngõ 136 T.T, phường Y.S, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội;Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh ;Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Họ tên bố: Nguyễn Đình Bằng - Sinh năm:1954; Họ tên mẹ: Phạm Kim V Sinh năm: 1960, Gia đình có 02 anh chị em; Bị cáo là con thứ nhất; Họ tên vợ: Bùi Thị H - Sinh năm: 1987; Bị cáo có 06 con, con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Bản án số 879 ngày 07/9/1996 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Cướp tài sản (đã xóa án tích). Ngày 08/5/2001 Công an quận Hai Bà Trưng đưa vào cơ sở giáo dục. Bản án số 244 ngày 10/8/2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử 09 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Chấp hành xong án tù ngày 26/4/2011 (đã xóa án tích) ; Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/6/2023 và hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội ( có mặt tại phiên toà)

- Nguyễn Tiến V - Sinh năm: 1985;Tên gọi khác: Không;HKTT: thôn An P, xã P.Đ, huyện T.N, tỉnh Nam Định; Chỗ ở: Không cố định;Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không;Nghề nghiệp: tự do;Trình độ văn hóa:12 /12; Họ tên bố: Nguyễn Văn T, Sinh năm: 1961, Họ tên mẹ: Lương Thị T - Sinh năm: 1961; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Họ tên vợ: Bùi Thị L - Sinh năm: 1986; Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Bản án số 253 ngày 07/12/2010 của Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội Chống người thi hành công vụ (đã xóa án tích). Bản án số 06 ngày 12/01/2016 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử 04 tháng 29 ngày về tội Đánh bạc, được trả tự do tại phiên tòa (đã xóa án tích). Bản án số 53 ngày 10/4/2017 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xử 12 tháng tù về tội Đánh bạc. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/9/2017 (đã xóa án tích); Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/6/2023 và hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội ( có mặt tại phiên toà)

- Phùng Xuân T -Sinh năm: 1984; Tên gọi khác: Không; HKTT: Khu 4, xã T.D, huyện P.N, tỉnh Phú Thọ; Chỗ ở: Không cố định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: tự do;Trình độ văn hóa: 12/12; Họ tên bố: Phùng N - Sinh năm: 1949 (đã chết), Họ tên mẹ: Nguyễn Thị T - Sinh năm: 1949; Gia đình có 04 anh chị em; Bị cáo là con thứ tư; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Bản án số 178 ngày 27/11/1997 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xử 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong án phạt tù ngày 29/3/2018 (đã xóa án tích).Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/6/2023 và hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội ( có mặt tại phiên toà )

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 20 phút ngày 26/6/2023, tại khu vực ngã tư Trương Đ – T.M, Hoàng Mai, Hà Nội, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an thành phố Hà Nội bắt quả tang Nguyễn Tiến V và Phùng Xuân T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ trong túi quần bên phải phía trước của V có 01 (một) bọc cao su màu trắng, bên trong là 02 (hai) bọc cao su màu trắng đều chứa chất bột màu trắng. Tại chỗ V và T khai mỗi người góp 200.000 đồng để mua ma túy của đối tượng G, nhà ở khu vực Y.S, quận Hoàng Mai. Tổ công tác đã thu giữ tang vật và đưa V, T về trụ sở công an phường T.M để làm việc. Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ của Nguyễn Tiến V: 01 xe máy nhãn hiệu FANLIM-ZX, BKS: 30N2 – 9290; 01 điện thoại di động màu đỏ trên máy có in chữ Oppo số thuê bao: 0944.861.579; thu giữ của Phùng Xuân T: 01 điện thoại di động màu xanh trên máy có in chữ Nokia, số thuê bao: 0971.759.995.

Căn cứ lời khai và biên bản nhận dạng của V và T, Cơ quan điều tra ra Lệnh khám xét khẩn cấp đối với Nguyễn T G tại số 30 ngõ 136 T.T, phường Y.S, quận Hoàng Mai, Hà Nội, kết quả thu giữ: 10 (mười) gói nhỏ bên ngoài mỗi gói được bọc bằng cao su màu trắng, tiếp đến là lớp giấy, trong cùng là chất bột màu trắng; 01 (một) cân điện tử màu trắng; 01 điện thoại di động có chữ Vertu màu vàng đen, số thuê bao: 0347.242.695; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, số thuê bao 1: 0705.060.723; số thuê bao 2: 0918.398.973, số tiền 400.000 đồng.

Tại bản Kết luận giám định số 4357 ngày 03/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội trả lời đối với vật chứng thu giữ của Nguyễn Tiến V và Phùng Xuân T: chất bột màu trắng bên trong 02 gói giấy (được bọc ngoài bằng lớp cao su) đều là ma túy loại Heroin, tổng khối lượng: 0,233 gam.

Tại bản Kết luận giám định số 4356 ngày 03/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội trả lời đối với vật chứng thu giữ của Nguyễn T G: Chất bột màu trắng bên trong 10 gói giấy (đều được bọc bằng lớp cao su) đều là ma túy loại Heroin, tổng khối lượng: 1,130 gam; 01 cân điện tử màu trắng có dính ma túy loại Heroin.

Quá trình điều tra xác định nội dung vụ án như sau: Nguyễn T G là đối tượng nghiện ma tuý nên mua ma túy để vừa bán vừa sử dụng. Tối ngày 25/6/2023 G đi đến khu vực dốc Vĩnh Hưng, Nguyễn Khoái, quận Hoàng Mai mua ma tuý Heroin và 01 cân điện tử với giá 1.200.000 đồng của một nam giới không quen biết, sau đó G mang về dùng cân điện tử chia số Heroin thành 12 gói nhỏ, G cắt găng tay cao su y tế màu trắng để bọc ngoài mỗi gói heroin. Bản thân G đã sử dụng 01 gói heroin. Đến khoảng 14h ngày 26/6/2023, Nguyễn Tiến V và Phùng Xuân T cùng nhau góp mỗi người 200.000 đồng để mua ma tuý về sử dụng. V dùng số điện thoại 0944.861.579 gọi điện cho G hỏi mua 400.000 đồng ma túy heroin, G đồng ý và hẹn V đến khu vực hồ điều hoà ngõ 885 T.T để giao dịch mua bán ma tuý. V đi xe máy chở T đến chỗ hẹn, T đưa 400.000 đồng cho G và nhận của G một gói bọc bằng cao su màu trắng bên trong có chứa Heroin. Trên đường về, T đưa gói ma túy cho V cầm. V giấu ma túy vào túi quần bên phải phía trước rồi cùng T đi tìm nơi để sử dụng, đi đến khu vực ngã tư phố Trương Định – T.M, phường Tương Mai, quận Hoàng Mai, Hà Nội thì bị kiểm tra bắt giữ. Số ma tuý thu tại nhà của G chưa kịp bán cho khách thì bị công an thu giữ khi khám xét.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn T G, Nguyễn Tiến V và Phùng Xuân T khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung sự việc nêu trên.

Cơ quan điều tra đã thu giữ thông tin liên lạc đối với số điện thoại 0347.242.695 (thu của G) và số điện thoại 0944.861.579 (thu của V) xác định từ 13h50p đến 14h19p ngày 26/6/2023, V đã liên lạc với G 03 cuộc, phù hợp với lời khai của V và G về việc V liên lạc với G để đặt mua ma túy.

Đối với người bán ma túy cho G, Cơ quan điều tra đã dẫn giải G đến khu vực đê Nguyễn Khoái, phường Thanh Lương, quận Hoàng Hai Bà Trưng, Hà Nội nhưng không xác định được người bán ma túy, do G không khai được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu FANLIM-ZX, BKS: 30N2 – 9290 thu giữ của Nguyễn Tiến V, qua xác minh chủ sở hữu là chị Vũ Thị Thanh Loan (sinh năm 1986, địa chỉ: xã Phúc Tiến, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội). Chị Loan trình bày đã mua chiếc xe máy nêu trên và sử dụng được khoảng 4-5 năm sau thì bán xe cho một người không quen biết, chị Loan đã bàn giao giấy tờ xe nên không nhớ thông tin người mua xe. Nguyễn Tiến V khai mua chiếc xe máy này của một người đàn ông không quen biết ở khu vực bến xe Giáp Bát, khi mua có giấy tờ xe nhưng V đã làm mất giấy tờ. Cơ quan điều tra đã chuyển chiếc xe máy này đến Chi cục thi hành án quận Hoàng Mai để chờ xử lý.

Các vật chứng của vụ án gồm: 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo (thu giữ của V); 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia (thu giữ của T), 01 điện thoại có chữ Vertu, 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung, 01 cân điện tử và 400.000 đồng (thu giữ của G) được xác định liên quan đến vụ án nên chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàng Mai để chờ quyết định xử lý.

Tại bản cáo trạng số 272/CT-VKS-HS ngày 6 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận Hoàng Mai – Thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Tiến V, Phùng Xuân T về tội “tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự và Nguyễn T G về tội “mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm khoản 1 điều 251 Bộ luật hình sự Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cơ quan điều tra.

Đại diện Viện kiểm sát kết luận phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất mức độ phạm tội và nhân thân của các bị cáo và giữ nguyên quan điểm truy tố đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tiến V, Phùng Xuân T về tội “tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự và Nguyễn T G về tội “mua bán trái phép chất ma tuý” tại khoản 1 điều 251 Bộ luật hình sự Đề nghị Hội đồng xét xử: -Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51, điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến V từ 18 đến 22 tháng tù về tội “ tàng trữ trái phép chất ma tuý” thời hạn tù tính từ ngày bị bắt .

Xử phạt bị cáo Phùng Xuân T từ 18 đến 22 tháng tù về tội “ tàng trữ trái phép chất ma tuý” thời hạn tù tính từ ngày bị bắt . -Áp dụng khoản 1 điều 251; điểm s khoản 1 điều 51, điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn T G từ 34 đến 38 tháng tù về tội “mua bán trái phép chất ma tuý” thời hạn tù tính từ ngày bị bắt . -Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự : Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự -Về hình phạt bổ sung : Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định hiện nay đang bị tạm giam , về điều kiện kinh tế còn khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo -Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 0,233 Heroin và 1,130 gam Heroin đã thu giữ của các bị cáo Tịch thu xung công 1 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đỏ của V, một điện thoại Vertu và một cân điện tử cùng số tiền 400.00 đồng của G Trả lại cho G một điện thoại nhãn hiệu Samsung màu đen và cho T một điện thoại nhãn hiệu Nokia màu xanh Trả lại cho V một xe máy nhãn hiệu FANLIM – ZX BKS : 30 N2 – 9290 -Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. -Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau :

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hoàng Mai - thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra. Vậy có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 14 h ngày 26/6/2023 tại khu vực hồ điều hoà ngõ 885 T.T, quận Hoàng Mai, Hà Nội Nguyễn T G đã có hành vi bán 0,233 gam Heroin với giá 400.000 đồng cho Nguyễn Tiến V và Phùng Xuân T. V và T mang ma túy đi tìm chỗ để sử dụng, khi đi đến ngã tư Trương Định – T.M, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội thì bị Công an bắt quả tang cùng vật chứng. Ngoài ra cơ quan điều tra còn thu giữ tại nhà của G ở số 30 ngõ 136 T.T, phường Y.S, quận Hoàng Mai, Hà Nội 1,130 gam Heroin với mục đích để bán kiếm lời.

Xét thấy hành vi của các bị cáo đã vi phạm pháp luật .Các bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện.Tại phiên toà các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình theo bản cáo trạng và lời luận tội của Viện kiểm sát. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận các bị cáo T và bị cáo V phạm tội “ tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo G phạm tội “mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 điều 251 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai - Thành phố Hà Nội truy tố và kết luận về hành vi phạm tội của các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý chất ma tuý, làm lan truyền tệ nạm xã hội, ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, là nguyên nhân dẫn đến những vi phạm pháp luật khác, tác động xấu tới tình hình trật tự trị an xã hội ở địa phương. Xét nhân thân của các bị cáo đều có tiền án tuy đã được xoá cho thấy các bị cáo không chịu cải tạo sửa chữa mà vẫn tiếp tục phạm tội do đó cần thiết phải áp dụng một hình phạt thật nghiêm khắc, đủ dài để cho các bị cáo có cơ hội để đoạn tuyệt với ma túy, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài mới có tác dụng giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của mình . Gia đình bị cáo G có công với cách mạng. Do đó cần cho các bị cáo T , V được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo G được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

-Về hình phạt bổ sung : Xét thấy các bị cáo về điều kiện kinh tế còn khó khăn, nghề nghiệp không ổn định, hiện nay đang bị tạm giam nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo

-Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

-Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 0,233 Heroin và 1,130 gam Heroin đã thu giữ của các bị cáo Tịch thu xung công 1 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đỏ của V, một điện thoại Vertu và một cân điện tử cùng số tiền 400.00 đồng của G Trả lại cho G một điện thoại nhãn hiệu Samsung màu đen và cho T một điện thoại nhãn hiệu Nokia màu xanh Trả lại cho V một xe máy nhãn hiệu FANLIM – ZX BKS : 30 N2 – 9290 -Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. -Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51, điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến V 20 ( Hai mươi ) tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma tuý” thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 26/6/2023 Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

Xử phạt bị cáo Phùng Xuân T 20 ( Hai mươi ) tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma tuý” thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 26/6/2023 Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

Căn cứ khoản 1 điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017

Xử phạt bị cáo Nguyễn T G 30 ( Ba mươi) tháng tù về tội “ mua bán trái phép chất ma tuý” thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 26/6/2023

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

* Về xử lý vật chứng :

Căn cứ điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017

- Tịch thu tiêu huỷ 0,233 Heroin và 1,130 gam Heroin đã thu giữ của các bị cáo -Tịch thu xung công 1 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đỏ của V, một điện thoại Vertu và một cân điện tử cùng số tiền 400.00 đồng của G -Trả lại cho G một điện thoại nhãn hiệu Samsung màu đen và cho T một điện thoại nhãn hiệu Nokia màu xanh -Trả lại cho V một xe máy nhãn hiệu FANLIM – ZX BKS : 30 N2 – 9290 Vật chứng trên hiện đang bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàng Mai -Thành phố Hà Nội theo phiếu nhập kho vật chứng số NK 2024 ngày 25/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàng Mai – TP Hà Nội Tịch thu xung công số tiền 400.000 đồng của G theo giấy nộp tiền vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàng Mai ngày 19/10/2023

* Về án phí:

Căn cứ điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điều 23 nghị quyết 326/2016 /UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội

Buộc các bị cáo G, V , T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

* Về quyền kháng cáo:

Căn cứ điều 331,333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo G, V, T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ