- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen H - 251 - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: bị cáo Nguyễn H 08 (tám) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp với hình phạt 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” của bản án hình sự số 18/2021/HSST ngày 23/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện D, buộc bị cáo H phải chấp hàn…
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH KHÁNH HÒA ------------ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 263/2021/HS-ST Ngày 28-12-2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N - TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa pH tòa: bà Võ Thị Mai Phương
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Bạn
bà Võ Thị Bời
- Thư ký pH tòa: ông Phạm Văn Tuân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố N - Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N - Khánh Hòa tham gia pH tòa: bà Nguyễn Thị Bảo Châu - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2021, Tòa án nhân dân thành phố N xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 222/2021/TLST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 214/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn H - sinh năm 1994 tại Khánh Hòa; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: thôn T2 - xã D - huyện D - Khánh Hòa; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn B (1961) và bà Trần Thị T (1963); Tiền sự, tiền án: không; Nhân thân: Bản án số 18/2021/HSST ngày 23/4/2021, Tòa án nhân dân huyện D xử phạt 01 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bắt tạm giam từ ngày 12/01/2021 đến nay; Có mặt tại phiên tòa.
- Người tham gia tố tụng khác:
+ Người làm chứng: Nguyễn Minh Đ - 1998; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 12/01/2021, tại cổng chung cư CT1 đường B1
- khu đô thị V - xã V - tp. N, tổ công tác Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh Khánh Hòa phát hiện Nguyễn H có nghi vấn về ma túy nên yêu cầu kiểm tra. Thấy vậy, H bỏ chạy được khoảng 5m thì bị vấp té, H vứt 01 gói đồ đang cầm trên tay xuống đất. Sau đó, H bị tổ công tác khống chế, đồng thời, tổ công tác tiến hành niêm phong, trong đó bao gồm: 05 viên nén màu hồng, hình trái dâu (được niêm phong, ký hiệu A) và 01 nylon màu trắng, kích thước (3x4)cm, có khóa hằn miệng, đựng tinh thể trắng (được niêm phong, ký hiệu B). Tổ công tác đưa H về trụ sở Công an xã V làm việc. Tại trụ sở Công an xã V, kiểm tra áo khoác của Nguyễn H, phát hiện bên trong áo khoác có 05 viên nén màu hồng, hình trái dâu (được niêm phong, ký hiệu C) và 01 bịch nylon màu trắng, kích thước (4x7)cm, có khóa hằn miệng màu đỏ, đựng tinh thể trắng (được niêm phong, ký hiệu D). Tiến hành khám xét khẩn cấp tại phòng trọ Nguyễn H đang thuê trọ tại thôn N - xã B - huyện D, phát hiện thu giữ trong túi quần jean màu xanh, phía sau bên trái 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng hàn kín 02 đầu, bên trong đựng tinh thể màu trắng (được niêm phong, ký hiệu E) và nhiều bịch nylon màu trắng có khóa hằn miệng, kích thước (3x4)cm, bên trong không đựng gì. Quá trình điều tra, H khai nhận: do không có nghề nghiệp nên H được người thanh niên tên H1 (chưa xác định được nhân thân lai lịch) cho số điện thoại của một thanh niên tên K (chưa xác định được nhân thân lai lịch) để mua ma túy của K, bán lại kiếm lời. H đã nhiều lần lấy ma túy của K để bán lại cho người khác, cụ thể: Ngày 12/01/2021, H đang ở nhà thuê tại thôn N - xã B - huyện D thì có một thanh niên (chưa xác định được nhân thân lai lịch) gọi hỏi mua 5 viên thuốc “lắc” và nửa hộp năm ma túy “khay”. H báo giá 4.500.000đ (trong đó 300.000đ/thuốc “lắc” và 3.000.000đ/nửa hộp năm ma túy “khay”) và hẹn giao tại cổng chung cư CT1 đường B1 - khu đô thị V - xã V - tp. N, Sau đó, H gọi điện thoại cho K, hỏi mua ma túy để bán lại, K hẹn H giao ma túy tại khu vực T - P. H đến điểm hẹn thì K giao cho H 10 viên thuốc “lắc” và 1 hộp năm ma túy “khay, dặn bán còn lại để ngày mai bán tiếp, khỏi lấy nữa, K cho H nợ, đến khi bán được ma túy sẽ trả tiền sau. Sau đó, H đến điểm hẹn tại chung cư CT1 đường B1 - khu đô thị V - xã V - tp. N, khi đang chờ giao ma túy cho người mua thì bị bắt quả tang như trên. Ngoài ra, H đã nhiều lần bán ma túy cho Nguyễn Minh Đ (sinh năm 1998, nơi ĐKNKTT: thôn L - xã N - thị xã N; chỗ ở hiện nay: phòng 301 căn hộ 155/3 đường D - phường V - tp. N). Đ thừa nhận thông qua một người tên Nguyễn Thế D (chưa xác minh được nhân thân lai lịch), Đ đã nhiều lần mua ma túy của Nguyễn H. Kết luận giám định số 87/GĐTP ngày 18/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Khánh Hòa kết luận:
- Các viên nén màu hồng trong mẫu ký hiệu A gửi giám định, có khối lượng 1,7711g là ma túy loại MDMA.
- Tinh thể màu trắng mẫu ký hiệu B gửi giám định, có khối lượng 1,6162g, là ma túy loại Ketamine.
- Các viên nén màu hồng trong mẫu ký hiệu C gửi giám định. có khối lượng 1,7369g, là ma túy loại MDMA.
- Tinh thể màu trắng mẫu ký hiệu D gửi giám định, có khối lượng 3,4098g, là ma túy loại Ketamine.
- Tinh thể màu trắng mẫu ký hiệu E gửi giám định, có khối lượng 0,4197g, là ma túy loại Ketamine.
Tại bản cáo trạng số 187/CT-VKSNT ngày 15/6/2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N đã truy tố bị cáo Nguyễn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N - tỉnh Khánh Hòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng điểm b khoản 2, 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo H từ 07 năm 6 tháng tù đến 08 năm 6 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; tổng hợp với phần hình phạt 01 năm 6 tháng tù của bản án số 18/2021/HSST ngày 23/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện D, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 09 năm tù đến 10 năm tù, phạt bổ sung từ 10.000.000đ đến 20.000.000đ. Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và tịch thu nộp ngân sách Nhà nước đối với 02 điện thoại di động. Về án phí: đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại pH tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Quá trình giải quyết vụ án, các Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng.
[2] Về thủ tục tố tụng: người làm chứng Nguyễn Minh Đ đã được tống đạt giấy triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Hồ sơ thể hiện rõ lời khai của anh Đ nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt.
[3] Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định ngày 12/01/2021, trong khi đang đứng chờ để bán ma túy tại cổng chung cư CT1 khu đô thị V - xã V - tp. N, bị cáo H bị tổ công tác Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh Khánh Hòa kiểm tra hành chính và phát hiện thu giữ của bị cáo 05 viên nén màu hồng, hình trái dâu và 01 bịch nylon màu trắng, kích thước (3x4)cm, có khóa hằn miệng, đựng tinh thể trắng. Tại trụ sở làm việc Công an xã Vĩnh Hiệp, qua khám xét, Công an phát hiện trên người bị cáo đang tàng trữ 05 viên nén màu hồng, hình trái dâu và 01 bịch nylon màu trắng, kích thước (4x7)cm, có khóa hằn miệng màu đỏ, đựng tinh thể trắng. Khám xét tại nơi ở của bị cáo, phát hiện trong túi quần jean màu xanh, phía sau bên trái 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng hàn kín 02 đầu, bên trong đựng tinh thể màu trắng. Bị cáo H thừa nhận toàn bộ các viên nén màu hồng và tinh thể màu trắng trong các bịch nylon mà cơ quan Công an thu giữ đều là ma túy, H tàng trừ nhằm bán cho người khác để kiếm lời. Tính đến khi bị bắt, bị cáo đã nhiều lần bán ma túy cho người khác. Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Khánh Hòa xác định: Các viên nén màu hồng trong mẫu ký hiệu A gửi giám định, có khối lượng 1,7711g là ma túy loại MDMA.
- Tinh thể màu trắng mẫu ký hiệu B gửi giám định, có khối lượng 1,6162g, là ma túy loại Ketamine.
- Các viên nén màu hồng trong mẫu ký hiệu C gửi giám định. có khối lượng 1,7369g, là ma túy loại MDMA.
- Tinh thể màu trắng mẫu ký hiệu D gửi giám định, có khối lượng 3,4098g, là ma túy loại Ketamine.
- Tinh thể màu trắng mẫu ký hiệu E gửi giám định, có khối lượng 0,4197g, là ma túy loại Ketamine. Như vậy có đủ cơ sở để khẳng định Viện kiểm sát truy tố bị cáo H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. [4] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo biết rõ các chất ma túy, trong đó có MDMA và Ketamine là chất gây nghiện, hướng thần do Nhà nước độc quyền quản lý, mọi hành vi mua bán, tàng trữ, sử dụng mà không được phép của Nhà nước đều bị nghiêm cấm nhưng vì cái lợi trước mắt, bị cáo vẫn nhiều lần lén lút mua bán. Điều này thể hiện thái độ xem thường kỷ cương pháp luật của Nhà nước nên cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt thật nghiêm khắc và phạt tiền bổ sung mới đảm bảo tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Ngày 23/4/2021, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện D xử phạt 01 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bản án này hiện nay đã có hiệu lực pháp luật nên cần tổng hợp hình phạt với bản án này để buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án. Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cũng cần được xem xét khi lượng hình để bị cáo nhận thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước mà yên tâm cải tạo trở thành người công dân có ích cho xã hội. [5] Về vật chứng: 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, sử dụng số thuê bao 0396541673, 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng, sử dụng số thuê bao 0366614278, bị cáo sử dụng để liên lạc mua bán ma túy nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước. Đối với số ma túy còn lại sau giám định là chất cấm lưu hành và nhiều bịch nylon màu trắng, kích thước (3x4)cm, bên trong không đựng gì không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
[6] Đối với các đối tượng tên K, sử dụng số thuê bao 0905334875 để liên lạc mua bán với bị cáo H: Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tp. N đã tiến hành xác minh tại Trung tâm tính cước và thanh khoản Mobifone thì số điện thoại trên được đăng ký dưới tên bà Đặng Thị Tuyết A (sinh năm 1969; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: 153/31 đường P - phường T - tp. B - Đăk Lăk), nơi đăng ký là Trung tâm Mobifone phường E - tp. B - Đăk Lăk. Tuy nhiên, bà Anh chỉ có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ nói trên, hiện nay bà A đi đâu làm gì không rõ. Tại khu vực dốc Đại học T cũng không có ai tên K, có đặc điểm như bị cáo H mô tả. Do đó, cơ quan Công an tp. N đang tiếp tục điều tra xác minh làm rõ, khi nào có cơ sở sẽ xử lý sau.
Đối với đối tượng Nguyễn Thế D: qua xác minh tại Công an phường V và Công an phường L thì không có đối tượng nào tên Nguyễn Thế D thuê trọ tại khu vực xung quanh Trung tâm ngoại ngữ N và làm việc tại Vũ trường H. Cơ quan Công an tp. N đang tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có cơ sở sẽ xử lý sau.
Đối với đối tượng tên H: Cơ quan Công an tp. N đang tiến hành xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với Nguyễn Minh Đ: Lời khai ban đầu, Đ xác định nhiều lần mua ma túy của H dùm cho khách tại karaoke B. Tuy nhiên, tại các bản khai sau này và biên bản lấy lời khai, Đ phủ nhận việc mua ma túy dùm cho khách mà chỉ thừa nhận việc nhiều lần mua ma túy của H để sử dụng cho bản thân. Do đó, không có căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự đối với Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
[7] Đối với xe máy nhãn hiệu Sirius, số khung RLCUE3240JY174808, số máy E3X9E475961: Quá trình điều tra xác định xe máy này được đăng ký tên chủ sở hữu là ông Đào Ngọc V (sinh năm 1978; trú tại: thôn D - xã S - huyện C) đã bị mất trộm. Hiện nay, cơ quan Công an huyện Cam Lâm đang thụ lý vụ việc nói trên. Do đó, Công an tp. N đã bàn giao toàn bộ xe và biển kiểm soát 79N1-802.39 cho Công an huyện C để giải quyết theo thẩm quyền.
[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm b khoản 2, 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn H.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn H 08 (tám) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp với hình phạt 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” của bản án hình sự số 18/2021/HSST ngày 23/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện D, buộc bị cáo H phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 10 (mƣời) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/01/2021.
Phạt bổ sung: 10.000.000đ (Mười triệu đồng). Về vật chứng: Áp dụng khoản 1; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, sử dụng số thuê bao 0396541673 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng, sử dụng số thuê bao 0366614278.
- Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định của các mẫu A, B, C, D, E với khối lượng lần lượt: 1,6340g, 1,4868g, 1,4778g, 3,1904g, 0,3477g được niêm phong trong các phong bì, ký hiệu lần lượt A, B, C, D, E đều có chữ ký giáp lai của Nguyễn Hoàng Quang A, Nguyễn Hương T, Nguyễn Ngọc Thanh Tr và nhiều bịch nylon màu trắng có khóa hằn miệng, kích thước (3x4)cm, bên trong không đựng gì. (Tình trạng, đặc điểm vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 23/8/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tp. N với Chi cục thi hành án dân sự tp. N). Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Bị cáo Nguyễn H nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa pH tòa
Võ Thị Mai Phƣơng
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tp. N; - Công an tp. N; - Chi cục thi hành án dân sự tp. N; - Bị cáo; - Lưu THA hình sự, hồ sơ. |