vanban.org

Bản án 262/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 22/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điều 47; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Bùi Hoàng E phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Bùi Hoàng E 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/7/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Hoàng E tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điều 47; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ THUẬN AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 262/2019/HS-ST
Ngày: 22-10-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Trọng Quân.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thiện;

Ông Nguyễn Thanh Luật.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Cảnh Khang, Thư ký Toà án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Xuân Tình - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 10 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 256/2019/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 260/2019/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Bùi Hoàng E, sinh năm 1993 tại tỉnh Bạc Liêu; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp TH, xã LĐT, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu; nơi cư trú: đường AN, khu phố HL2, phường TG, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Thanh T và bà Hứa Thị P; có vợ tên Phạm Thị Th (Đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/7/2019, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Liên H, sinh năm 1976; địa chỉ: Ấp BM, xã BM, huyện CP, tỉnh An Giang. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Viết T, sinh năm 1980. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ 45 phút ngày 19/7/2019, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thị xã Thuận An phối hợp cùng Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Bình Dương và Công an Đồn khu công nghiệp Việt Nam - Singapore tuần tra theo quy định. Khi tổ tuần tra đến ngã tư giao nhau giữa đường số 9 và Đại lộ Độc Lập thuộc khu công nghiệp Việt Nam – Singapore thị xã Thuận An thì phát hiện Bùi Hoàng E đang điều khiển xe mô tô biển số 67D1 – 346.33 đứng chờ tín hiệu đèn giao thông có dấu hiệu khả nghi nên kiểm tra; qua kiểm tra Bùi Hoàng E khai nhận có sử dụng ma túy đồng thời lấy từ bên trong túi quần giao nộp 01 gói nylon hàn kín bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, Bùi Hoàng E khai nhận là ma túy đá nên lực lượng công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong tang vật. Tang vật thu giữ gồm: 01 gói nylon hàn kín bên trong có chứa tinh thể màu trắng và 01 xe mô tô biển số 67D1 – 346.33.

Bản Kết luận giám định số 555/MT-PC09 ngày 25/7/2019 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận chất tinh thể màu trắng gửi đến giám định là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng là 2,3845 gam.

Bản Cáo trạng số 270/CT-VKS ngày 30/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương truy tố Bùi Hoàng E về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung Cáo trạng và đề nghị căn cứ quy định tại điểm s Khoản 1; khoản 2 Điều 51; điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt Bùi Hoàng E mức hình phạt từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù và đề nghị tiêu hủy số ma túy thu giữ được còn lại sau giám định.

Bị cáo Bùi Hoàng E khai nhận ngày 19/7/2019 mua số ma túy nêu trên của đối tượng tên Cường (Không rõ lai lịch, địa chỉ) với giá 1.000.000 đồng, khi đang trên đường trở về nơi ở thì bị phát hiện bắt giữ. Trong phần trình bày lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thấy hành vi của mình là sai trái, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không khiếu nại, tố cáo về các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Qua tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận đã mua và cất giữ trong người 01 gói ma túy loại Methamphetamine có khối lượng là 2,3854 gam nhằm mục đích sử dụng, đang trên đường về thì bị kiểm tra thu giữ.

Về lỗi của bị cáo: Khi thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, biết được tác hại của việc sử dụng ma túy và việc tàng trữ trái phép chất ma túy bị nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện để có ma túy sử dụng.

Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Hành vi cất giữ trái phép chất ma túy của bị cáo Bùi Hoàng E đã đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không gây oan sai cho bị cáo.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách quản lý của Nhà nước về ma túy và các chất gây nghiện, xâm phạm an ninh, trật tự tại địa phương, gây lên sự nghiện ngập, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của bị cáo, đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ra những tệ nạn xã hội, nhiều căn bệnh hiểm nghèo. Do đó, Viện kiểm sát truy tố, Tòa án nhân dân thị xã Thuận An đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và răn đe các đối tượng khác phòng ngừa chung, nhất là trong giai đoạn hiện nay, tình hình tội phạm về ma túy diễn ra ngày càng nhiều, thủ đoạn ngày càng tinh vi, để lại những hậu quả nặng nề, gây nhiều bức xúc cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sau phạm tội có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có ông nội là Bùi Thanh Mười, bà nội là Lưu Thị Xuyến được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất; ông ngoại của bị cáo là Hứa Văn Út được thưởng Huy chương Kháng chiến hạng Nhất nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An đề nghị xử phạt bị cáo mức hình phạt như nêu trên là có căn cứ, phù hợp với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo.

Đối với đối tượng tên Cường là người bán ma túy cho Bùi Hoàng E do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra và xử lý sau.

Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy có khối lượng sau giám định còn lại 2,1878 gam loại Methamphetamine đựng trong bì thư có dấu đỏ niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương có ký hiệu 555/PC09 là chất cấm nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với chiếc xe mô tô biển số 67D1 – 346.33 qua điều tra xác định được chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị Liên Hương. Ngày 19/7/2019, bà Hương cho bị cáo mượn nhưng không biết bị cáo sử dụng đi mua ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Thuận An đã trả lại chiếc xe này cho bà Hương, bà Hương không có yêu cầu gì nên không xem xét,

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điều 47; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

- Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14:

1. Tuyên bố bị cáo Bùi Hoàng E phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Bùi Hoàng E 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/7/2019.

2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Tịch thu, tiêu hủy 01 bì thư có dấu đỏ niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương có ký hiệu 555/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương là mẫu vật hoàn lại sau giám định;

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 01/10/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Thuận An và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận An).

3. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ