- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn N - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố : Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 33 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 262/2017/HSST Ngày 28-12-2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trung Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hải
Ông Nguyễn Phi Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Đậu Thị Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Ủy ban nhân dân Phường M, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 245/2017/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2017, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 262/2017/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2017, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn N, sinh năm 1994 tại Bình Thuận; nơi đăng ký HKTT và nơi ở: thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: làm biển; trình độ văn hóa: không biết chữ; Dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Ngô Thị H, sinh năm 1965;
Tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt, tạm giam ngày 17 tháng 9 năm 2017, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an Tp. Vũng Tàu (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 11 giờ 30 phút, ngày 17-9-2017, tại trước nhà số 231 đường L, phường T, thành phố V, Công an phường T kiểm tra hành chính, bắt quả tang Nguyễn Văn N đang có hành vi tàng trữ 01 gói giấy bạc, bên trong có chứa chất rắn màu trắng đục (N khai là Heroin), đồng thời thu của N 01 điện thoại hiệu Masstel và 100.000 đồng.
Quá trình điều tra, N khai nhận: N không sử dụng ma túy. Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 17-9-2017, tại khu vực xã P, huyện L, tỉnh BR-VT, N gặp người thanh niên tên T, không rõ lai lịch, ở xã C, huyện T, tỉnh Bình Thuận (là bạn cùng đi biển, nhưng khác ghe). T nhờ N đi qua Vũng Tàu mua giúp 500.000đ Heroin, T nói T nghiện Heroin, còn N không nghiện nên qua mua giùm không sao. N mượn điện thoại của người bạn tên M ở cùng quê với N để sử dụng, T ghi số điện thoại của người bán ma túy vào điện thoại cho N liên lạc. Lúc này, T đã liên lạc với người bán ma túy và nói N qua nhận ma túy. Sau đó, T thuê xe honda ôm chở N đến khu vực B, phường T, Thành phố V, thì có một người thanh niên không rõ lai lịch đi ra giao cho N 01 gói Heroin. N đưa 500.000đ và được trả lại 100.000đ, người thanh niên nói với N là chỉ còn gói giá 400.000đ. Khi về đến trước nhà số 231 đường L, phường T, Thành phố V, thì N bị Công an phường T kiểm tra bắt quả tang (BLĐT: 15 đến 21).
Bản kết luận giám định số: 211-GĐ-PC54 ngày 19-9-2017 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu kết luận:
Mẫu chất bột màu trắng chứa trong 01 (một) gói giấy bạc, được niêm phong trong cùng phong bì màu vàng, có hình dấu của Công an phường Thắng Nhì- CATP Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu và 02 dấu vân tay ghi “ngón trỏ trái- phải của Nguyễn Văn N”, cùng các chữ ký ghi họ tên: Trung tá Hoàng Văn Hiển, Nguyễn Việt Tú, Đặng Văn Dương, gửi đến giám định có trọng lượng: 0,2597 gam, là chất ma túy, loại Heroine.
Heroine là chất ma túy nằm trong Danh mục I, STT 20, Nghị định 82 ngày 19-7-2013 của Chính Phủ.
Tại bản cáo trạng số 264-CT-VKS ngày 29-11-2017, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố V đã truy tố Nguyễn Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với Nguyễn Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm p khoản 1 Điều 46 và Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Bị cáo Nguyễn Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên. Bị cáo đã nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn, hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Vũng Tàu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được tại hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Lúc 11 giờ 30 phút, ngày 17-9-2017, tại trước nhà số 231 đường L, phường T, Thành phố V, Công an phường T kiểm tra hành chính, bắt quả tang Nguyễn Văn N có hành vi cất giấu bất hợp pháp 01 gói giấy bạc, bên trong có chứa chất bột màu trắng, có trọng lượng 0,2597 gam, là chất ma túy, loại Heroine. Như vậy, hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999.
Xét Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định hình phạt cao nhất là tử hình, Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định hình phạt cao nhất là phạt tù chung thân, do đó Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định hình phạt nhẹ hơn so với Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999. Nên áp dụng Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc Hội; khoản 3 Điều 7; khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 để quyết định trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến việc quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác liên quan đến ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh tại địa phương. Vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo phạm tội không thuộc các trường hợp là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 để giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo thuộc thành phần lao động, làm nghề đi biển, không có khả năng thi hành án nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- 01 gói ma túy niêm phong số 211/GĐ-PC54 ngày 19-9-2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cần tịch thu tiêu hủy;
- 01 ĐTDĐ hiệu Masstet và 100.000 đồng là phương tiện thực hiện tội phạm nên tịch thu sung quỹ nhà nước.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố : Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999;
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17 tháng 9 năm 2017.
2. Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy 01 gói ma túy niêm phong số 211/GĐ-PC54 ngày 19-9-2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 ĐTDĐ hiệu Masstet và 100.000 đồng.
Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng số 35/BB.THA ngày 30-11-2017 và biên lai thu tiền số 0008427 ngày 29-11-2017.
3. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng ) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (PV27); - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - VKSND Tp.Vũng Tàu; - Công an Tp.Vũng Tàu; - Chi cục THADS Tp.Vũng Tàu; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Trung Dũng |