- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn - nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Ngọc Q
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5- AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 261/2026/HNGĐ-ST Ngày: 16/7/2026 V/v:“Tranh chấp ly hôn và nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5- AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lữ Cẩm Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đặng Quốc Cần;
2. Ông Trịnh Hoàng Giang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Ngọc Tuyền- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5- An Giang.
Ngày 16 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5- An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 759/2026/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 4 năm 2026 về việc "Tranh chấp ly hôn và nuôi con " theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 317/2026/QĐXX-ST ngày 22 tháng 6 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên toà số 263/2026/Qd8ST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị Ngọc Q, sinh năm 1993
Địa chỉ: Ấp V, xã N, tỉnh An Giang.
Chổ ở hiện nay: ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ.
(Chị Q có mặt)
Bị đơn: Anh Võ Văn S, sinh năm 1988
Địa chỉ: Ấp V, xã N, tỉnh An Giang.
(Anh S vắng mặt lần 2 không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 10/3/2026 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà nguyên đơn chị Lê Thị Ngọc Q trình bày: Vào năm 2013 chị và anh S cùng nhau đi đến hôn nhân, trên cơ sở hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang cấp ngày 08/01/2015.
Cuộc sống chung vợ chồng lúc đầu hạnh phúc nhưng sau đó thời gian đến năm 2025 thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng luôn bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống, không hợp nhau về tính tình và cách sống dẫn đến vợ chồng không còn tiếng nói chung và vợ chồng không còn hạnh phúc nữa và vợ chồng chị đã sống ly thân từ năm 2025 cho đến nay.
Nay chị xét thấy không còn tình cảm với anh S nữa nên chị quyết định ly hôn với anh S.
Về con chung: Trong quá trình chung sống chị và anh S có 02 con chung tên Võ Thành T, sinh ngày 03/01/2019 và Võ Thành Đ, sinh ngày 01/11/2014 hiện nay con đang sống cùng chị.
Tại đơn khởi kiện ngày 13/4/2026 chị có yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên nay chị xin rút lại yêu cầu cấp dưỡng và xác định không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con và cam kết không khiếu nại về sau.
Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng chị không có tạo lập được tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết còn về phần nợ thì vợ chồng cũng không có nợ ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà, chị Lê Thị Ngọc Q yêu cầu:
- Về hôn nhân: Xin ly hôn với anh Võ Văn S
- Về con chung: Yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Võ Thành T, sinh ngày 03/01/2019 và Võ Thành Đ, sinh ngày 01/11/2014 và không yêu cầu anh S1 cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Bị đơn anh Võ Văn S đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh S đều không có mặt.
Tại phiên tòa chị Q vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh S còn anh S vắng mặt lần 2 không lý do.
NHẬN ĐỊNH:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Q khởi kiện tranh chấp xin ly hôn với bị đơn anh S có địa chỉ ấp V, xã N, tỉnh An Giang. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5- An Giang vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5- An Giang.
Về sự vắng mặt của đương sự: Tòa án nhân dân khu vực 5- An Giang đã triệu tập hợp lệ anh S tham gia phiên tòa lần 2 nhưng bị đơn vẫn tiếp tục vắng mặt không lý do đồng thời tại phiên tòa nguyên đơn đồng ý xét xử vắng mặt bị đơn nên căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng anh S là phù hợp theo quy định pháp luật.
[2] Về hôn nhân: Chị Q và anh S kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn năm 2015 tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống đến năm 2025 anh chị phát sinh mâu thuẫn, theo chị Q nguyên nhân do vợ chồng luôn bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống, không hợp nhau về tính tình và cách sống dẫn đến vợ chồng không còn tiếng nói chung và vợ chồng không còn hạnh phúc nữa. Thực tế vợ chồng chị đã sống trong tình trạng ly thân trong thời gian từ năm 2025 cho đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, anh S không có mặt theo thông báo để Tòa án tiến hành hòa giải, thể hiện anh không có thiện chí để giải quyết mâu thuẫn vợ chồng và tại phiên tòa hôm nay mặc dù anh S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng chị Q và anh S đã kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị Q yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh S để ổn định cuộc sống. Căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Q, xử cho chị Q được ly hôn anh S là hoàn toàn phù hợp theo quy định pháp luật.
[3] Về quan hệ con chung: Trong quá trình giải quyết vụ án chị Q xác nhận trong thời gian chung sống vợ chồng chị có 02 con chung tên là Võ Thành T, sinh ngày 03/01/2019 và Võ Thành Đ, sinh ngày 01/11/2014. HĐXX xét thấy từ khi vợ chồng chị Q sống ly thân với nhau đến nay cháu T, cháu Đ do chị Q chăm sóc, nuôi dưỡng và chị Q cũng có yêu cầu được chăm sóc, nuôi nưỡng cháu T, cháu Đ đồng thời cũng phù hợp theo nguyện vọng của các con nên cần tiếp tục giao cháu T, cháu Đ cho chị Q tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi các con đủ 18 tuổi là phù hợp theo quy định pháp luật.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tại đơn khởi kiện ngày 13/4/2026 chị Q có yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà chị Q xin rút lại yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con, chị Q xác định không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn, xét thấy việc chị Q không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn tự nguyện nên HĐXX không xem xét.
Đối với việc chị Q có đơn xin rút lại yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con theo đơn khởi kiện ngày 13/4/2026 nên HĐXX căn cứ Điều 244 bộ luật tố tụng dân sự 2015 đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của chị Q là phù hợp theo quy định pháp luật.
[5] Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập anh S đúng theo quy định pháp luật nhưng anh vẫn vắng mặt không lý do nên Toà án không tiến hành hoà giải, đối chất về tài sản chung giữa chị Q và anh S được. Hơn nữa chị Q xác nhận vợ chồng chị không có tạo lập được tài sản gì chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, về phần tài sản chung HĐXX không xem xét nếu sau này các đương sự có yêu cầu thì đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.
[6] Về nợ chung: Chị Q xác nhận không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị Q là nguyên đơn phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điều 227, Điều 244, Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Ngọc Q
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lê Thị Ngọc Q và anh Võ Văn S.
2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Võ Thành T, sinh ngày 03/01/2019 và Võ Thành Đ, sinh ngày 01/11/2014 cho chị Q tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi (Phù hợp theo nguyện vọng của con). Chị Q không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Anh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom các con mà không ai được cản trở.
Đình chỉ đối với việc chị Q rút lại yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
3. Về tài sản chung: Chị Q xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về nợ chung: Chị Q xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí: Chị Q phải nộp tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai số 304915 ngày 09 tháng 4 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh A; chị Q không phải nộp thêm.
“ Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014”.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND khu vực 5- An Giang; - THADS tỉnh An Giang; - Các đương sự; - UBND xã Ngọc Chúc; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lữ Cẩm Nhung |