vanban.org

Bản án 261/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận anh Hồ Minh L và chị Võ Thị L1 là vợ chồng.

Về con chung: Chị L1 nuôi con tên Hồ Minh C1, sinh ngày 19/5/2011 hiện đang ở cùng chị, anh L có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con mỗi tháng 1.000.000 đồng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm đến khi con đã thành niên. Kể từ khi chị L1 có đơn yêu cầu thi hành án nếu anh L chậm thực hiện nghĩa vụ thì hàng tháng a…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận anh Hồ Minh L và chị Võ Thị L1 là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 261/2023/HNGĐ-ST
Ngày 16-8-2023
V/v tranh chấp xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Việt Xô.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Việt Thắng.

Ông Hồ Quang Minh.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Cẩm Hường là Thư ký Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời.

Ngày 16 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 490/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2023 về “Tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 290/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Hồ Minh L, sinh năm 1976 (có mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Chị Võ Thị L1, sinh năm 1979 (có yêu cầu vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng tại Tòa án anh Hồ Minh L trình bày: Anh và chị Võ Thị L1 tự nguyện thành hôn vào năm 1999, nhưng không đăng ký kết hôn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu do bất đồng quan điểm, lối sống, tính tình không hòa hợp nhau và không tự giải quyết được nên anh yêu cầu ly hôn với chị L1.

Thời gian chung sống, anh và chị L1 có 03 con chung tên Hồ Hoàng C, sinh năm 2002; Hồ Kim H, sinh năm 2004 và Hồ Minh C1, sinh ngày 19/5/2011. Sau khi ly hôn, anh đồng ý giao con tên Hồ Minh C1 cho chị L1 nuôi, anh đồng ý cấp dưỡng cho con mỗi tháng 1.000.000 đồng đến khi con thành niên; đối với Hồ Hoàng C và Hồ Kim H đã thành niên, nên không đặt ra yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không đặt ra yêu cầu.

Bị đơn chị Võ Thị L1 trình bày: Chị và anh L tự nguyện thành hôn vào năm 1999 là đúng, không có đăng ký kết hôn như anh L trình bày. Do áp lực gia đình dẫn đến bất đồng quan điểm, lối sống và không thể tiếp tục sống chung được nên chị đồng ý ly hôn theo yêu cầu của anh L.

Vợ chồng có 03 con chung như anh L trình bày, sau khi ly hôn chị yêu cầu nuôi con chưa thành niên tên Hồ Minh C1, yêu cầu anh L cấp dưỡng cho con và đồng ý nhận mức cấp dưỡng cho con mỗi tháng 1.000.000 đồng đến khi con đã thành niên. Đối với Hồ Hoàng C và Hồ Kim H đã thành niên, nên không đặt ra yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không đặt ra yêu cầu.

Do điều kiện công việc, chị đề nghị vắng mặt khi giải quyết vụ án.

Đối với Hồ Minh C1 là con chung của anh L và chị L1 có nguyện vọng ở cùng chị L1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Vụ việc theo yêu cầu của anh Hồ Minh L được Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chị Võ Thị L1 có yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị L1.

Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa anh L và chị L1 được xác lập vào năm 1999, nhưng không đăng ký kết hôn là chưa đảm bảo về trình tự, thủ tục theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình tại thời điểm xác lập, nay có yêu cầu ly hôn, Tòa án căn cứ vào những quy định về chấm dứt hôn nhân theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình để giải quyết. Do quan hệ hôn nhân giữa anh L và chị L1 không đăng ký theo quy định của pháp luật, căn cứ Điều 53 và khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình không công nhận anh L và chị L1 là vợ chồng.

Về con chung: Anh L và chị L1 có 03 con chung, đối với Hồ Hoàng C và Hồ Kim H đã thành niên, các đương sự không đặt ra yêu cầu, nên không xem xét. Đối với Hồ Minh C1 chưa thành niên đang ở cùng chị L1, sau khi ly hôn anh L thống nhất giao con cho chị L1 nuôi theo yêu cầu của chị L1 và thực tế con chung của anh chị có nguyện vọng ở cùng chị L1. Như vậy, các đương sự đã thỏa thuận việc nuôi con và sự thỏa thuận của các đương sự không trái với quy định của pháp luật, căn cứ Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận giao con cho chị L1 nuôi.

Xét yêu cầu của chị L1 về việc cấp dưỡng cho con, Hội đồng xét xử thấy rằng Hồ Minh C1, sinh ngày 19/5/2011 là con chung của anh L và chị L1 nên anh L và chị L1 phải cùng có trách nhiệm, anh L không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, anh L đồng ý cấp dưỡng cho con mỗi tháng 1.000.000 đồng theo yêu cầu của chị L1 là có căn cứ và đúng quy định tại Điều 82, Điều 107, Điều 110, Điều 116 và Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, buộc anh L cấp dưỡng cho con mỗi tháng 1.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm đến khi con đã thành niên.

Anh L phải chịu lãi suất nếu chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Anh L không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con theo quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh L và chị L1 xác định không có và không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Anh Hồ Minh L là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên anh L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Phần tạm ứng án phí anh L đã nộp được khấu trừ.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 228; Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ Điều 53, khoản 1 Điều 14, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116 và Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình. Căn cứ điểm a khoản 5 và khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận anh Hồ Minh L và chị Võ Thị L1 là vợ chồng.

2. Về con chung: Chị L1 nuôi con tên Hồ Minh C1, sinh ngày 19/5/2011 hiện đang ở cùng chị, anh L có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con mỗi tháng 1.000.000 đồng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm đến khi con đã thành niên.

Kể từ khi chị L1 có đơn yêu cầu thi hành án nếu anh L chậm thực hiện nghĩa vụ thì hàng tháng anh L còn phải chịu thêm phần lãi suất chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Anh L có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng quyền thăm con để gây ảnh hưởng đến việc nuôi con của chị L1.

Vì lợi ích của con chưa thành niên nên anh L có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và chị L1 có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch anh Hồ Minh L phải chịu 300.000 đồng, anh L đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0007088 ngày 14/7/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời được khấu trừ.

Án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch (cấp dưỡng) anh Hồ Minh L phải chịu 300.000 đồng.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ