vanban.org

Bản án 261/2021/HSPT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 16/06/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/06/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn D và giữ nguyên

bản án sơ thẩm. Xử phạt: Nguyễn Văn D 07 (Bảy) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn D và giữ nguyên
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 261/2021/HSPT
Ngày: 16-6-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Thanh Liêm

Các thẩm phán:

Ông Trương Minh Tuấn

Ông Mai Xuân Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Văn Thị Mỹ Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân cấp

cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên

tòa: Ông Nguyễn Hải Tuấn, Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét

xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 280/2021/TLPT-HS ngày 23

tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất

ma túy”. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số

15/2021/HSST ngày 18-3-2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai. Theo Quyết

định đưa vụ án ra xét xử số 1331/2021/QĐXXPT-HS ngày 26 tháng 5 năm

2021.

* Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Văn D (Tiên D), sinh ngày 03/4/1981, tại tỉnh Gia Lai; Nơi

ĐKHKTT: thành phố P, tỉnh Gia Lai; chỗ ở: thành phố P, tỉnh Gia Lai; trình độ

văn hóa: 8/12; nghề nghiệp: Kinh doanh tự do; con ông Nguyễn T (chết) và bà

Ngô Thị X; có vợ Nguyễn Thị Như K (đã ly hôn) và 02 con, bị cáo sống chung

với bà Lê Thị Thúy N; Tiền án, tiền sự: Không; bị bắt giam ngày 17/5/2020; Có

mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 8 giờ 20 ngày 17/5/2020, tại Cảng hàng không P, tỉnh Gia Lai

(thành phố P, tỉnh Gia Lai), Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Gia Lai phối hợp với Đội An ninh hàng không Cảng hàng không P và Công an phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai bắt quả tang Nguyễn Văn D về hành vi cất giấu ma túy trái phép trong người 01 gói ni lon màu đen bên trong có 02 gói ni lon màu trắng chứa chất rắn dạng cục, bột màu trắng (ký hiệu số 01); và 01 gói ni lon màu trắng bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (ký hiệu số 02); 01 điện thoại di động; 01 cân tiểu ly điện tử và 700.000 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai tiếp tục tiến hành khám

xét chỗ ở của Nguyễn Văn D, phát hiện và thu giữ: 01 hộp giấy bên trong có 06 gói giấy đều chứa chất rắn dạng cục, bột màu trắng (ký hiệu số 03); 01 gói giấy bên trong có chứa chất rắn dạng cục, bột màu trắng (ký hiệu số 04); 01 gói ni lon màu trắng bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (ký hiệu số 05) và 29 dụng cụ gồm đao, mã tấu, lưỡi lê, dao găm có kích thước khác nhau.

Tại Kết luận giám định số 429/KLGĐ ngày 25/5/2020 của Phòng kỹ thuật

hình sự Công an tỉnh Gia Lai, kết luận:

1. Chất màu trắng dạng cục, bột trong 02 (hai) gói nilon trong gói nilon

màu đen, ghi “Số 01” niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroine; khối lượng 20,5675 gam.

2. Chất màu trắng dạng tinh thể trong 01 (một) gói nilon, ghi “Số 02”

niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng 4,3796 gam.

3. Chất màu trắng dạng cục, bột trong 06 (sáu) gói giấy trong hộp giấy,

ghi “Số 3” niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroine; khối lượng 0,1998 gam.

4. Chất màu trắng dạng cục, bột trong 01 (một) gói giấy, ghi “Số 4” niêm

phong gửi giám định là ma túy, loại Heroine; khối lượng 0,0218 gam.

5. Chất màu trắng dạng tinh thể trong 01 (một) gói nilon, ghi “Số 5” niêm

phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng 0,4309 gam.

Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Văn D khai nhận: Nguyễn Văn D sử dụng

trái phép chất ma túy từ năm 2013 cho đến nay. D thường xuyên mua ma túy loại Heroine và Methamphetamine của các đối tượng quen biết ngoài xã hội (chưa xác định được nhân thân lai lịch) về sử dụng. Đối với toàn bộ số ma túy Cơ quan điều tra đã thu giữ nêu trên, D mua về để sử dụng. Thông qua bạn bè quen biết ngoài xã hội, D quen và biết đối tượng tên là D1 (chưa xác định được nhân thân lai lịch) sống tại Thành phố K, tỉnh Kon Tum và đối tượng tên H

(chưa xác định được nhân thân lai lịch, sử dụng số điện thoại 0977563476) sống

tại thành phố Hà Nội là người bán ma túy. Vào ngày 12/5/2020, Nguyễn Văn D

liên lạc với D1 để mua ma túy. Sau đó, D từ thành phố P, tỉnh Gia Lai đến thành

phố K, tỉnh Kon Tum gặp D1 và thỏa thuận mua 800.000 đồng (Tám trăm ngàn)

ma túy (loại Heroin và Methamphetamine), khi mua ma túy D không cân nên

không xác định được khối lượng là bao nhiêu. Sau đó, D đem số ma túy đã mua

về nhà cất giấu và chia ma túy ra thành nhiều phần nhỏ để sử dụng. Ngày

17/5/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai khám xét chỗ ở của

D đã phát hiện 07 gói ma túy và lập biên bản thu giữ. Ngày 16/5/2020, Nguyễn

Văn D từ thành phố P ra Hà Nội gặp H để mua ma túy. Sau khi thỏa thuận, D

mua của H 02 gói ma túy loại Heroine với số tiền là 10.000.000 đồng (Mười

triệu đồng) và 01 gói ma túy loại Methamphetamine với số tiền là 2.000.000

đồng (Hai triệu đồng). D trả cho H 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), còn nợ

lại 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Ngày 17/5/2020, Nguyễn Văn D cất giấu số

ma túy đã mua vào quần lót đang mặc trên người và đi máy bay đi từ thành phố

Hà Nội về thành phố P, tỉnh Gia Lai. Khi đến Sân bay P thì D bị Đội An ninh

hàng không Cảng hàng không P và lực lượng Công an tỉnh Gia Lai phát hiện và

lập biên bản phạm tội quả tang. Đối với số ma túy đã mua, D không biết nhân

thân lai lịch của đối tượng đã bán ma túy cho D nên Cơ quan điều tra không có

cơ sở để điều tra mở rộng vụ án.

Vật chứng vụ án:

- 20,7891 gam ma túy loại Heroine;

- 4,8105 gam ma túy loại Methamphetamine;

- 01 điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Nokia;

- 01 cân tiểu ly điện tử màu đen có ghi chữ POCKET SCALE;

- 700.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Tại Bản n h nh ự ơ h m ố 15/2021/HSST ngày 18/3/2021, Tòa n

nhân dân tỉnh Gia Lai

uy ịnh:

[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái

phép chất ma túy”.

[2] Về Điều luật áp dụng và hình phạt:

- Căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51; điểm b, n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật

hình sự năm 2015.

Xử phạt Nguyễn Văn D 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma

túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 17/5/2020.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí

và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 23/3/2021, bị cáo Nguyễn Văn D có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ

hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn D giữ nguyên yêu cầu kháng

cáo. Bị cáo D cho rằng, Tòa án cấp sơ thẩm xử mức hình phạt quá nghiêm khắc nên xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Hội đồng

xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn D và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Bị cáo Nguyễn Văn D khai nhận: Ngày 12/5/2020 Nguyễn Văn D đã mua

ma túy của đối tượng tên D1 (Chưa xác định được nhân thân lai lịch) với số tiền 800.000 đồng đem về nhà cất giấu và chia ra nhiều phần nhỏ để sử dụng. Ngày 16/5/2020 , D mua ma túy của đối tượng tên H (Chưa xác định được nhân thân lai lịch) tại thành phố Hà Nội với số tiền 12.000.000 đồng, đã trả 10.000.000 đồng, còn nợ 2.000.000 đồng. Ngày 17/5/2020, D vận chuyển về thành phố P, tỉnh Gia Lai để sử dụng thì bị bắt quả tang. Theo kết luận giám định 20,7891 gam ma túy loại Heroine và 4,8105 gam ma túy loại Methamphetamine.

Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn D, đối chiếu thấy phù hợp với

các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn D đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b, n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất nghiêm trọng của vụ án, mức

độ phạm tội, đồng thời xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo Nguyễn Văn D như: Thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải và xử phạt Nguyễn Văn D với mức án 07 năm tù là đã chiếu cố giảm nhẹ. Tại phiên tòa phúc thẩm không có tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn D và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Văn D

phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Những phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo,

kháng nghị nên không xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn D và giữ nguyên

bản án sơ thẩm.

Áp dụng điểm b, n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật

hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Văn D 07 (Bảy) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất

ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/5/2020.

2. Về án phí: Nguyễn Văn D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc

thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về phần xử lý vật chứng, án

phí không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời

hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ