- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn D và giữ nguyên
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 261/2021/HSPT Ngày: 16-6-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Thanh Liêm
Các thẩm phán:
Ông Trương Minh Tuấn
Ông Mai Xuân Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Văn Thị Mỹ Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân cấp
cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên
tòa: Ông Nguyễn Hải Tuấn, Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét
xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 280/2021/TLPT-HS ngày 23
tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất
ma túy”. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số
15/2021/HSST ngày 18-3-2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai. Theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số 1331/2021/QĐXXPT-HS ngày 26 tháng 5 năm
2021.
* Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Văn D (Tiên D), sinh ngày 03/4/1981, tại tỉnh Gia Lai; Nơi
ĐKHKTT: thành phố P, tỉnh Gia Lai; chỗ ở: thành phố P, tỉnh Gia Lai; trình độ
văn hóa: 8/12; nghề nghiệp: Kinh doanh tự do; con ông Nguyễn T (chết) và bà
Ngô Thị X; có vợ Nguyễn Thị Như K (đã ly hôn) và 02 con, bị cáo sống chung
với bà Lê Thị Thúy N; Tiền án, tiền sự: Không; bị bắt giam ngày 17/5/2020; Có
mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 8 giờ 20 ngày 17/5/2020, tại Cảng hàng không P, tỉnh Gia Lai
(thành phố P, tỉnh Gia Lai), Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Gia Lai phối hợp với Đội An ninh hàng không Cảng hàng không P và Công an phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai bắt quả tang Nguyễn Văn D về hành vi cất giấu ma túy trái phép trong người 01 gói ni lon màu đen bên trong có 02 gói ni lon màu trắng chứa chất rắn dạng cục, bột màu trắng (ký hiệu số 01); và 01 gói ni lon màu trắng bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (ký hiệu số 02); 01 điện thoại di động; 01 cân tiểu ly điện tử và 700.000 đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai tiếp tục tiến hành khám
xét chỗ ở của Nguyễn Văn D, phát hiện và thu giữ: 01 hộp giấy bên trong có 06 gói giấy đều chứa chất rắn dạng cục, bột màu trắng (ký hiệu số 03); 01 gói giấy bên trong có chứa chất rắn dạng cục, bột màu trắng (ký hiệu số 04); 01 gói ni lon màu trắng bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (ký hiệu số 05) và 29 dụng cụ gồm đao, mã tấu, lưỡi lê, dao găm có kích thước khác nhau.
Tại Kết luận giám định số 429/KLGĐ ngày 25/5/2020 của Phòng kỹ thuật
hình sự Công an tỉnh Gia Lai, kết luận:
1. Chất màu trắng dạng cục, bột trong 02 (hai) gói nilon trong gói nilon
màu đen, ghi “Số 01” niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroine; khối lượng 20,5675 gam.
2. Chất màu trắng dạng tinh thể trong 01 (một) gói nilon, ghi “Số 02”
niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng 4,3796 gam.
3. Chất màu trắng dạng cục, bột trong 06 (sáu) gói giấy trong hộp giấy,
ghi “Số 3” niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroine; khối lượng 0,1998 gam.
4. Chất màu trắng dạng cục, bột trong 01 (một) gói giấy, ghi “Số 4” niêm
phong gửi giám định là ma túy, loại Heroine; khối lượng 0,0218 gam.
5. Chất màu trắng dạng tinh thể trong 01 (một) gói nilon, ghi “Số 5” niêm
phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng 0,4309 gam.
Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Văn D khai nhận: Nguyễn Văn D sử dụng
trái phép chất ma túy từ năm 2013 cho đến nay. D thường xuyên mua ma túy loại Heroine và Methamphetamine của các đối tượng quen biết ngoài xã hội (chưa xác định được nhân thân lai lịch) về sử dụng. Đối với toàn bộ số ma túy Cơ quan điều tra đã thu giữ nêu trên, D mua về để sử dụng. Thông qua bạn bè quen biết ngoài xã hội, D quen và biết đối tượng tên là D1 (chưa xác định được nhân thân lai lịch) sống tại Thành phố K, tỉnh Kon Tum và đối tượng tên H
(chưa xác định được nhân thân lai lịch, sử dụng số điện thoại 0977563476) sống
tại thành phố Hà Nội là người bán ma túy. Vào ngày 12/5/2020, Nguyễn Văn D
liên lạc với D1 để mua ma túy. Sau đó, D từ thành phố P, tỉnh Gia Lai đến thành
phố K, tỉnh Kon Tum gặp D1 và thỏa thuận mua 800.000 đồng (Tám trăm ngàn)
ma túy (loại Heroin và Methamphetamine), khi mua ma túy D không cân nên
không xác định được khối lượng là bao nhiêu. Sau đó, D đem số ma túy đã mua
về nhà cất giấu và chia ma túy ra thành nhiều phần nhỏ để sử dụng. Ngày
17/5/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai khám xét chỗ ở của
D đã phát hiện 07 gói ma túy và lập biên bản thu giữ. Ngày 16/5/2020, Nguyễn
Văn D từ thành phố P ra Hà Nội gặp H để mua ma túy. Sau khi thỏa thuận, D
mua của H 02 gói ma túy loại Heroine với số tiền là 10.000.000 đồng (Mười
triệu đồng) và 01 gói ma túy loại Methamphetamine với số tiền là 2.000.000
đồng (Hai triệu đồng). D trả cho H 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), còn nợ
lại 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Ngày 17/5/2020, Nguyễn Văn D cất giấu số
ma túy đã mua vào quần lót đang mặc trên người và đi máy bay đi từ thành phố
Hà Nội về thành phố P, tỉnh Gia Lai. Khi đến Sân bay P thì D bị Đội An ninh
hàng không Cảng hàng không P và lực lượng Công an tỉnh Gia Lai phát hiện và
lập biên bản phạm tội quả tang. Đối với số ma túy đã mua, D không biết nhân
thân lai lịch của đối tượng đã bán ma túy cho D nên Cơ quan điều tra không có
cơ sở để điều tra mở rộng vụ án.
Vật chứng vụ án:
- 20,7891 gam ma túy loại Heroine;
- 4,8105 gam ma túy loại Methamphetamine;
- 01 điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Nokia;
- 01 cân tiểu ly điện tử màu đen có ghi chữ POCKET SCALE;
- 700.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Tại Bản n h nh ự ơ h m ố 15/2021/HSST ngày 18/3/2021, Tòa n
nhân dân tỉnh Gia Lai
uy ịnh:
[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái
phép chất ma túy”.
[2] Về Điều luật áp dụng và hình phạt:
- Căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51; điểm b, n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật
hình sự năm 2015.
Xử phạt Nguyễn Văn D 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma
túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 17/5/2020.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí
và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 23/3/2021, bị cáo Nguyễn Văn D có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ
hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn D giữ nguyên yêu cầu kháng
cáo. Bị cáo D cho rằng, Tòa án cấp sơ thẩm xử mức hình phạt quá nghiêm khắc nên xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Hội đồng
xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn D và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Bị cáo Nguyễn Văn D khai nhận: Ngày 12/5/2020 Nguyễn Văn D đã mua
ma túy của đối tượng tên D1 (Chưa xác định được nhân thân lai lịch) với số tiền 800.000 đồng đem về nhà cất giấu và chia ra nhiều phần nhỏ để sử dụng. Ngày 16/5/2020 , D mua ma túy của đối tượng tên H (Chưa xác định được nhân thân lai lịch) tại thành phố Hà Nội với số tiền 12.000.000 đồng, đã trả 10.000.000 đồng, còn nợ 2.000.000 đồng. Ngày 17/5/2020, D vận chuyển về thành phố P, tỉnh Gia Lai để sử dụng thì bị bắt quả tang. Theo kết luận giám định 20,7891 gam ma túy loại Heroine và 4,8105 gam ma túy loại Methamphetamine.
Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn D, đối chiếu thấy phù hợp với
các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn D đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b, n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất nghiêm trọng của vụ án, mức
độ phạm tội, đồng thời xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo Nguyễn Văn D như: Thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải và xử phạt Nguyễn Văn D với mức án 07 năm tù là đã chiếu cố giảm nhẹ. Tại phiên tòa phúc thẩm không có tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn D và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Văn D
phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Những phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo,
kháng nghị nên không xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn D và giữ nguyên
bản án sơ thẩm.
Áp dụng điểm b, n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật
hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Văn D 07 (Bảy) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất
ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/5/2020.
2. Về án phí: Nguyễn Văn D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc
thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về phần xử lý vật chứng, án
phí không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời
hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ Giám đốc kiểm tra I - TAND tối cao; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Gia Lai; - Cơ quan CSĐT-Công an tỉnh Gia Lai; - Phòng HSNV-Công an tỉnh Gia Lai; - Cơ quan CSTHAHS-Công an tỉnh Gia Lai; - Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai; - Cục THADS tỉnh Gia Lai; - Trại tạm giam Công an tỉnh Gia Lai; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu HSVA, PHCTP, LT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vũ Thanh Liêm |