vanban.org

Bản án 261/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Ngọc G.

Về hôn nhân: Chị Phạm Thị Ngọc G được ly hôn với anh Nguyễn Minh S. Giấy chứng nhận kết hôn số 121 ngày 03-7-2012 của Ủy ban nhân dân thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Ngọc G.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Toà án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 261/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 18-7-2019
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Giao

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Thơ

2. Bà Trần Việt Hồng Phượng

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Tố Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 76/2019/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 77/2019/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Phạm Thị Ngọc G, sinh năm 1993; Địa chỉ: Tổ X, ấp H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt)

2. Bị đơn: Nguyễn Minh S, sinh năm 1987; Địa chỉ: Tổ Y, ấp Đ, xã V, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 18-02-2019, quá trình tố tụng nguyên đơn chị Phạm Thị Ngọc G trình bày:

- Về hôn nhân: Chị Phạm Thị Ngọc G và anh Nguyễn Minh S kết hôn vào năm 2011, hôn nhân do tự tìm hiểu, không tổ chức lễ cưới, đến năm 2012 thì đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn, anh chị sống chung với cha mẹ ruột chị G, đến năm 2013 thì anh S thường xuyên nhậu nhẹt, không lo làm ăn, không quan tâm đến gia đình nên vợ chồng thường xuyên cự cãi, anh S nhiều lần đánh chị, do đó cha mẹ chị G đã đuổi anh S về nhà cha mẹ anh S ở xã V. Anh S chỉ đến thăm con 2 - 3 lần thì không liên lạc với chị G từ năm 2013 cho đến nay. Thời gian gần đây chị về nhà anh S để tìm anh S bàn chuyện hôn nhân nhưng không gặp anh S, chị ruột của anh S nói anh S đã có gia đình khác. Do đó, chị G nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu ly hôn với anh S.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Minh Y sinh ngày 13-11-2012, hiện nay cháu Minh Y đang sống với chị G, sau khi ly hôn chị G yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh S cấp dưỡng.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

* Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh S để tham gia phiên họp, nhưng anh S đều vắng mặt không có lý do, đồng thời không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án tiến hành các thủ tục xác minh, lấy lời khai nhưng bị đơn không có mặt tại nhà khi cán bộ Tòa án đến, nên không lấy được lời khai của bị đơn.

* Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

- Bị đơn vắng mặt, không có ý kiến trình bày.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu:

+ Về chấp hành pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị G, giao cháu Minh Y cho chị G tiếp tục nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Thủ tục tố tụng:

1.1 Quan hệ tranh chấp: Chị G có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành giải quyết về ly hôn và tranh chấp nuôi con chung theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự

1.2 Thẩm quyền giải quyết: Tại biên bản xác minh ngày 05-6-2019, Công an xã V xác nhận anh S hiện có đăng ký hộ khẩu tại tổ Y, ấp Đ, xã V, huyện C, tỉnh An Giang. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

1.3 Về sự có mặt của đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn đến Tòa án để tham gia phiên toà xét xử vụ án nhưng bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.

Về nội dung tranh chấp:

2.1 Về hôn nhân: Chị G và anh S có làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình và được Ủy ban nhân dân thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 121 ngày 03-7-2012. Như vậy, hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ khi xảy ra tranh chấp. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhằm tạo điều kiện cho chị G và anh S được đoàn tụ, nhưng chị G cương quyết ly hôn, anh S đều vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, điều này chứng tỏ anh S cũng không có nguyện vọng được đoàn tụ với chị G, anh chị đã ly thân từ năm 2013 đến nay, cả hai không quan tâm và không còn thực hiện quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong cuộc sống hôn nhân. Như vậy hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị G.

2.2 Về con chung: Chị G trình bày anh chị có một con chung tên Nguyễn Minh Y sinh ngày 13-11-2012. Chị G có yêu cầu được tiếp tục nuôi con, anh S không có ý kiến trình bày. Hội đồng xét xử nhận thấy hiện nay Minh Y đang sống với chị G, để cho cuộc sống của cháu được ổn định, không bị xáo trộn nên Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, giao cháu Minh Y cho chị G tiếp tục nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị G không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không buộc anh S phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Giàu và gia đình phải tạo điều kiện cho anh S trong việc thực hiện nghĩa vụ, quyền của cha mẹ đối với con chung theo quy định tại Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

2.3 Về tài sản chung và nợ chung: Chị G trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí sơ thẩm:

- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị G là nguyên đơn nên phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.

Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Ngọc G.

- Về hôn nhân: Chị Phạm Thị Ngọc G được ly hôn với anh Nguyễn Minh S.

Giấy chứng nhận kết hôn số 121 ngày 03-7-2012 của Ủy ban nhân dân thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

- Về con chung: Chị Phạm Thị Ngọc G được quyền nuôi con chung tên Nguyễn Minh Y, sinh ngày 13-11-2012.

Anh Nguyễn Minh S không cấp dưỡng nuôi con do chị Phạm Thị Ngọc G không yêu cầu.

Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Việc nuôi con có thể bị thay đổi dựa trên cơ sở lợi ích của con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí sơ thẩm: Chị Phạm Thị Ngọc G phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0014112 ngày 06-3-2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Quyền háng cáo: Chị Phạm Thị Ngọc G được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 18-7-2019). Anh Nguyễn Minh S được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ