vanban.org

Bản án 2601/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc ông Vũ Văn H có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty A số tiền 31.858.252 đồng Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí; Điều 117 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 2601/2021/DS-ST
Ngày: 23/12/2021
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Thiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Tiến Dũng;

2. Bà Nguyễn Thị Lượng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Giang – Thư ký Tòa án nhân dân thành

phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà

Nguyễn Bá Thu Thư – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức,

Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:

468/2020/TLST-DS ngày 17/11/2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo

Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 4986/2021/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 11 năm

2021 và quyết định hoãn phiên tòa số: 5629/2021/QĐST-DS ngày 25/11/2021, giữa các

đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty A

Trụ sở: Tầng G, 8 và 10 Tòa nhà PN, Số 20 Đường D, phường T, thành phố Thủ

Đức, Thành Phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1986;

Chức vụ: Nhân viên của Công ty A).

(là người đại diện theo ủy quyền theo văn bản ủy quyền số: 380184942/2020/GUQ

ngày 15/10/2021 của Công ty A).

2. Bị đơn: Ông Vũ Văn H, sinh năm: 1968 (vắng mặt).

Địa chỉ: 114/47 đường T, phường B, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí

Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

(1) Nội dung nguyên đơn khởi kiện: Nguyên vào ngày 27/04/2018, Công ty A (gọi

tắt là Công ty Home Credit) và Vũ Văn H có ký kết hợp đồng tín dụng tiêu dùng trả góp số 3801848942, hai bên đã thỏa thuận Công ty Home Credit cho ông Vũ Văn H vay số tiền 61.618.000 đồng, để sử dụng vào mục đích tiêu dùng cá nhân. Ông Vũ Văn H phải có nghĩa vụ thanh toán cho cho Công ty Home Credit tổng số tiền cả nợ gốc và tiền lãi là 90.768.000 đồng, trong thời gian 24 tháng. Mỗi tháng ông H phải thanh toán cho Công ty Home Credit 3.782.000 đồng, kỳ đầu tiên vào ngày 27/5/2018. Ngoài ra, nếu thanh toán không đúng hạn như đã thỏa thuận trên, thì ông H còn phải chịu một khoản tiền lãi quá hạn do vi phạm nghĩa vụ thanh toán của hợp đồng. Thực hiện Hợp đồng, ông Vũ Văn H đã nhận được khoản vay 61.618.000 đồng, đã thanh toán cho Công ty Home Credit được 15 lần với tổng số tiền là 56.730.000 đồng số tiền còn nợ lại là 31.858.252 đồng, sau khi đã trừ và miễn giảm cho ông H một số tiền phí phát sinh không cần thiết. Tuy nhiên, từ ngày 07/8/2019 cho đến nay ông Vũ Văn H không thực hiện thanh toán như đã thỏa thuận. Mặc dù, phía Công ty Home Credit đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở, truy đòi, yêu cầu ông H thanh toán số tiền còn lại nhưng không có kết quả, ông Vũ Văn H cố tình chay lỳ, trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Do vậy, Công ty Home Credit khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Vũ Văn H thanh toán số tiền nợ còn lại là 31.858.252 đồng, không yêu cầu tính lãi phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán.

(2) Bị đơn ông Vũ Văn H vắng mặt không có lý do khi được Tòa án triệu tập lấy

lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và vắng mặt phiên tòa sơ thẩm lần thứ nhất.

(3) Tại phiên tòa sơ thẩm lần thứ hai: Bị đơn ông Vũ Văn H tiếp tục vắng mặt mà

không có lý do. Đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn đề nghị được xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như trên.

(4) Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí

Minh phát biểu ý kiến: Tòa án đã tiến hành tố tụng từ khi thụ lý cho đến mở phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử và đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật. Bị đơn ông Vũ Văn H đã vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn. Đối với người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn đề nghị được xét xử vắng mặt đề nghị Tòa án chấp nhận. Về nội dung vụ án: yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và hợp pháp, đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại

phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Giữa Công ty A với ông Vũ Văn H phát sinh quan hệ tranh chấp từ hợp đồng

vay tài sản thuộc trường hợp được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự

năm 2015. Bị đơn ông Vũ Văn H (là người có nghĩa vụ) đã đăng ký cư trú tại thành phố

Thủ Đức, địa chỉ khi tiến hành giao dịch vay mượn tiền, ghi trên hợp đồng là căn nhà

114/47 đường Tam Châu, phường Tam Bình, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí

Minh, theo quy định khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật dân sự năm

2015, trường hợp ông H thay đổi nơi ở mà không thông báo cho nguyên đơn thì được

coi là cố tình dấu địa chỉ, Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Căn cứ

quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự

năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức,

Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn đề nghị được xét xử vắng mặt, bị

đơn ông Vũ Văn H tiếp tục vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai mặc dù đã được triệu

tập hợp lệ, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, Hội đồng xét xử

áp dụng Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt

nguyên đơn và bị đơn.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Xét thấy, hợp đồng tín dụng tiêu dùng trả góp số 3801848942 ngày

27/4/2018 giữa ông Vũ Văn H với Công ty A là hoàn toàn tự nguyên, được lập bằng

văn bản có chữ ký của các bên, có hình thức và nội dung phù hợp với quy định tại các

Điều 117 và Điều 463 của Bộ luật dân sự năm 2015, nên đã phát sinh quyền và nghĩa

vụ pháp lý ràng buộc trách nhiệm buộc các bên phải thực hiện.

Căn cứ vào hợp đồng tín dụng tiêu dùng trả góp số 3801848942 ngày

27/4/2018 được giao kết giữa các bên, sự thừa nhận và không phản đối của các bên

đương sự theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, có cơ sở xác

định ông Vũ Văn H có vay của Công ty Home Credit số tiền 61.618.000 đồng, mục đích

vay tiêu dùng cá nhân, thời hạn vay là 24 tháng, thỏa thuận mỗi tháng ông H phải thanh

toán cho Công ty Home Credit 3.782.000 đồng bao gồm cả tiền gốc và tiền lãi, kỳ đầu

tiên vào ngày 27/5/2018, kỳ cuối cùng để kết thúc hợp đồng là ngày 27/4/2020, tổng số

tiền ông Vũ Văn H phải thanh toán cho Công ty Home Credit bao gồm cả tiền nợ gốc

và tiền lãi theo thỏa thuận là 90.768.000 đồng. Ông Vũ Văn Hảo chỉ thanh toán cho

Công ty Home Credit 15 kỳ với tổng số tiền là 56.730.000 đồng, sau khi trừ các khoản

chi phí phát sinh không cần thiết, thì số tiền ông H còn nợ lại là 31.858.252 đồng, từ

ngày 07/8/2019 cho đến hiện tại ông Vũ Văn H không thanh toán. Xét thấy, đến nay

thời hạn vay theo thỏa thuận giữa các bên đã hết, mà ông Vũ Văn H không trả số tiền còn nợ là vi phạm nghĩa vụ của bên vay được quy định tại Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015. Do vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn ông Vũ Văn H trả số tiền còn nợ 31.858.252 đồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét thấy, nguyên đơn không yêu cầu bị đơn phải trả tiền lãi phát sinh do

chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội và có lợi cho bị đơn. Do vậy, được Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn

ông Vũ Văn H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1

Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 186, Điều 227, Điều 228, Điều 233, Điều 235, Điều 266, Điều 273, Điều 280, Điều 482 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 40, Điều 117, điểm b khoản 2 Điều 277, 357, 463, 465, 466, 468 và

Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ

Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Buộc ông Vũ Văn H có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty A số tiền 31.858.252 đồng

(ba mươi mốt triệu tám trăm năm mươi tám nghìn hai trăm năm mươi hai đồng).

Kể từ ngày Công ty A có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông Vũ Văn H không thực

hiện hoặc chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ, thì hàng tháng ông H còn phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.

2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm 1.592.913 đồng buộc ông Vũ Văn H phải nộp

theo quy định.

Trả lại cho Công ty A số tiền tạm ứng án phí 796.456 đồng, theo biên lai thu tiền

tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2019/0058210 ngày 17/11/2020 của Chi cục thi

hành án dân sự quận Thủ Đức (nay là Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức),

Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời

hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi

hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có

quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị

cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự;

thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự,

đã được sửa đổi bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ