vanban.org

Bản án 260/2024/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 17/06/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/06/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

C n cứ điểm b khoản 1 Điều 355 điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố t ng h nh sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Thị Quỳnh T s a Bản án h nh sự sơ th m số 10/2024/HS-ST ngày 22/02/2024 của Tòa án nhân dân t nh Quảng B nh.

Áp d ng điểm h khoản 4 Điều 251 Điều 38; khoản 2 Điều 40; các điểm s t khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật H nh sự. X phạt bị cáo Phạm Thị Quỳnh T 20 (hai mươi) n m tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ tạm giam (ngày 23/11/2022). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thị Quỳnh T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? C n cứ điểm b khoản 1 Điều 355 điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố t ng h nh sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Thị Quỳnh T s a Bản án h nh sự sơ th m số 10/2024/HS-ST ngày 22/02/2024 của Tòa án nhân dân t nh Quảng B nh.
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 260/2024/HS-PT
Ngày: 17/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Chí Công

Các Thẩm phán: ông Phùng Anh Dũng và ông Phạm Văn Hợp

- Thư ký phiên tòa: bà Đặng Ngọc Gia Linh – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Lê Ra - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 n m 2024 tại điểm cầu trung tâm Tr s Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng k t nối v i điểm cầu thành phần tại Tr s Tòa án nhân dân t nh Quảng B nh t phúc th m trực tuy n công khai v án h nh sự th lý số 176/2024/TLPT-HS ngày 27 tháng 3 n m 2024 đối v i bị cáo Phạm Thị Quỳnh T bị Tòa án nhân dân t nh Quảng B nh t sơ th m về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” do có kháng cáo của bị cáo đối v i Bản án h nh sự sơ th m số 10/2024/HS-ST ngày 22/02/2024.

- Bị cáo có kháng cáo:

Phạm Thị Quỳnh T, sinh ngày 22/3/1998 tại t nh Quảng B nh; nơi cư trú: tổ dân phố D phường Đ thành phố Đ t nh Quảng B nh; nghề nghiệp: Lao động tự do; tr nh độ v n hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; gi i tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm V n D và bà Nguyễn Thị T1; có chồng là Phạm Vương A (đã ly hôn) và 01 con sinh n m 2021; tiền án tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 23/11/2022 có mặt tại điểm cầu thành phần.

Người bào chữa cho bị cáo Phạm Thị Quỳnh T: Luật sư Phạm Thành T2, công tác tại Trung tâm Tư vấn pháp luật thuộc Đoàn Luật sư t nh Q có mặt tại điểm cầu thành phần.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 13 giờ ngày 23/11/2022 tại C a hàng M (địa ch : số C đường T phường N thành phố Đ t nh Quảng B nh) Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an t nh Q đã bắt quả tang Phạm Thị Quỳnh T đang có hành vi chia nhỏ ma túy vào các túi nilon để bán. Cơ quan điều tra đã thu giữ 05 túi nilon trong suốt kích thư c 15cm 25cm bên trong chứa chất màu trắng; 06 túi nilon trong suốt kích thư c 14cm 14cm bên ngoài có chữ “200g” bên trong chứa chất màu trắng; 01 túi b m trẻ em hiệu Pampers bên trong có 10 túi nilon trong suốt kích thư c 14cm 14cm bên trong chứa chất màu trắng. Thu giữ tại vị trí Phạm Thị Quỳnh T đang ngồi có chất màu trắng do T làm đổ uống nền nhà. Phạm Thị Quỳnh T khai nhận toàn bộ chất màu trắng được đựng trong các túi nilon nói trên là ma túy loại Ketamine.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an t nh Q ti n hành khám t kh n cấp C a hàng M th ông Phạm V n D (là bố của Phạm Thị Quỳnh T) tự nguyện giao nộp 01 bọc vải màu nâu do ông D lấy ra từ bên trong tủ làm bằng nhôm kính đặt tại tầng 3 của c a hàng C (địa ch : số C đường T phường N thành phố Đ t nh Quảng B nh sát bên cạnh c a hàng M hiện không có ai s d ng) bên trong bọc vải màu nâu có 04 túi nilon trong suốt chứa tổng cộng 3.111 viên n n màu nâu không rõ h nh dạng. Phạm Thị Quỳnh T khai nhận số viên n n màu nâu nói trên là ma túy loại “thuốc lắc” do T nhờ ông D cất giấu.

Về nguồn gốc số ma túy nói trên Phạm Thị Quỳnh T khai nhận: khoảng tháng 8/2022 thông qua việc mua bán mỹ ph m Phạm Thị Quỳnh T quen bi t v i một người ph nữ có tên thường gọi là B nhà ã L thành phố Đ t nh Quảng B nh nhưng hiện nay đang làm n và sinh sống tại Cộng hòa liên bang Đ. Đầu tháng 11/2022 B s d ng tài khoản Telegram tên “Big C” (đ ng ký bằng số điện thoại 0774.427.652) gọi điện cho T qua tài khoản tên He'Sờ L (đ ng ký bằng số điện thoại 0898.089.173) đặt vấn đề thuê T nhận ma túy Ketamine và thuốc lắc do B g i từ nư c ngoài về rồi chia nhỏ bán cho người khác theo sự ch đạo của B, B sẽ trả công cho T v i số tiền là 15.000.000 đồng nhưng T không đồng ý. Đ n ngày 17/11/2022 B ti p t c gọi điện đặt vấn đề thuê T nhận và bán ma túy th T đồng ý.

Chiều ngày 17/11/2022 B gọi điện thoại nói Phạm Thị Quỳnh T nhận và cất giấu ma túy thuốc lắc để bán khi B g i đơn T đồng ý và cho địa ch nhà tại phường Đ thành phố Đ để B cho người mang ma túy đ n. Một lúc sau có một người ph nữ đi e mô tô tay ga bịt kh u trang đ n trư c cổng nhà giao cho T một thùng cát tông rồi rời đi. T mang thùng cát tông vào nhà m ra bên trong có một chi c máy lọc không khí rỗng ruột đựng 01 gói ma túy thuốc lắc T lấy gói ma túy ra chia nhỏ thành 04 gói gồm 03 gói đầy và 01 gói lưng. Khoảng 19 giờ cùng ngày T dùng một tấm vải màu nâu bọc 04 gói ma túy thuốc lắc mang đ n c a hàng M và nhờ ông Phạm V n D mang lên tầng 3 của c a hàng cất giấu cho T. Do tầng 3 bị dột ư t nên ông D cầm bọc vải trèo sang tầng 3 c a hàng Congcung bên cạnh (bỏ hoang đã lâu không có người lên uống) cất giấu vào bên trong tủ nhôm kính. T không nói cho ông D bi t bên trong bọc vải màu nâu có chứa ma túy và ông D cũng không m ra kiểm tra. Số ma túy thuốc lắc nói trên B đã nhắn cho T 02 đơn hàng để bán gồm: tài khoản Telegram tên Minh N, số điện thoại 0362.721.380 v i số lượng 500 viên và Anh T3 số điện thoại 0592.366.049 v i số lượng 1000 viên nhưng do bận việc nên T chưa giao số ma túy thuốc lắc cho khách.

Ngày 23/11/2022 B gọi điện thoại cho Phạm Thị Quỳnh T nói hàng (ma túy) đã về đ n thành phố Đ và nhắn qua Telegram cho T 03 đơn hàng để bán gồm: “Người nhận: Anh H địa ch : chung cư Q riverside complex, Quận G TP H sđt: 0787621593 01KT”; “Người nhận: Anh H sđt: 0813446569 đ/c: 26 P, H3 02KT”; “Người nhận: Anh thuận sđt 0775322538 đ/c: 339 trần khát chân HN 0 5KT (nữa KT em nh )”. Khoảng 11 giờ ngày 23/11/2022 Phạm Thị Quỳnh T gọi điện thoại thuê anh Trần V n D1 (là người làm nghề ch hàng thuê) đ n kho hàng N2 (địa ch : số B đường L thành phố Đ t nh Quảng B nh nhận) để ch 03 thùng hàng về đ n C a hàng M rồi gọi điện nhờ ông D nhận hàng. Sau khi nhận 03 thùng hàng ông D không m ra kiểm tra mà đưa vào bên trong c a hàng M để cất giữ cho T. Đ n khoảng 13 giờ cùng ngày Phạm Thị Quỳnh T m một trong ba thùng hàng để lấy ma túy chia nhỏ vào các túi nilon để bán theo các đơn hàng do B ch đạo th bị bắt quả tang.

Quá tr nh điều tra ác định: Bẹp có họ tên thật là Nguyễn Thị Lan H1, sinh n m 1991 trú tại tổ dân phố D thị trấn Nông trường L huyện L t nh Quảng B nh. Ngày 11/9/2019 Nguyễn Thị Lan H1 đã uất cảnh từ c a kh u sân bay quốc t N3 sang nư c Cộng hòa liên bang Đ đ n nay chưa tr về địa phương. C n cứ tài liệu điều tra chưa đủ cơ s để ác định Nguyễn Thị Lan H1 là người cung cấp ma túy và ch đạo Phạm Thị Quỳnh T chia nhỏ bán ma túy cho những người khác. Cơ quan điều tra ti p t c ác minh khi có đủ c n cứ sẽ

lý đối v i Nguyễn Thị Lan H1 theo quy định.

Tại K t luận giám định số 1291A/KL-KTHS ngày 01/12/2022 của Phòng K Công an t nh Q k t luận: Mẫu ký hiệu A5 (gồm 3.111 viên n n màu nâu không rõ h nh dạng thu giữ trong quá tr nh khám t đối v i Phạm Thị Quỳnh T) g i giám định là chất ma túy loại MDMA khối lượng 1.579 07 gam.

Tại K t luận giám định số 1291B/KL-KTHS ngày 16/12/2022 của Phòng K Công an t nh Q k t luận:

- 01 (một) túi nilon trong suốt bên trong chứa chất màu trắng bên ngoài đánh số 1 thu giữ trên nền nhà tại vị trí Phạm Thị Quỳnh T đang ngồi (Mẫu ký hiệu A1) là chất ma túy loại Ketamine khối lượng 53 22 gam.

- 05 (n m) túi nilon trong suốt bên trong chứa chất màu trắng bên ngoài đánh số 2 (Mẫu ký hiệu từ A2.1 đ n A2.5) là chất ma túy loại Ketamine tổng khối lượng 4.632 05 gam.

- 06 (sáu) túi nilon trong suốt bên trong chứa chất màu trắng bên ngoài có chữ “200g” đánh số 3 (Mẫu ký hiệu từ A3.1 đ n A3.6) là chất ma túy loại Ketamine tổng khối lượng 1.195 06 gam.

- 10 (mười) túi nilon trong suốt bên trong chứa chất màu trắng bên ngoài đánh số 4 (Mẫu ký hiệu từ A4.1 đ n A4.10) là chất ma túy loại Ketamine tổng khối lượng 1.992 16 gam.

Tổng khối lượng ma túy Ketamin của các mẫu Al; mẫu A2.1 đ n mẫu A2.5; mẫu A3.1 đ n mẫu A3.6; mẫu A4.1 đ n mẫu A4.10 là: 7.872 49 gam.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HS-ST ngày 22/02/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình: áp d ng điểm h khoản 4 Điều 251 Điều 39 các điểm a c khoản 1 Điều 47 các điểm s t khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật H nh sự.

X phạt bị cáo Phạm Thị Quỳnh Trang T4 chung thân về tội “Mua bán trái ph p chất ma túy”. Thời hạn chấp hành h nh phạt tù chung thân tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 23/11/2022).

Ngoài ra Bản án sơ th m còn quy t định về phần lý vật chứng án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 01/3/2024 Phạm Thị Quỳnh T kháng cáo in giảm nhẹ h nh phạt. Đơn kháng cáo của bị cáo có ác nhận của Trư ng nhà tạm giữ Công an thành phố Đ t nh Quảng B nh.

Tại phiên toà phúc th m:

- Bị cáo đề nghị Hội đồng t phúc th m s a bản án sơ th m giảm h nh phạt cho bị cáo v i lý do bị cáo có nhiều t nh ti t giảm nhẹ mức án mà Tòa án cấp sơ th m phạt là quá nặng và sau khi t sơ th m bị cáo có thêm nhiều t nh ti t giảm nhẹ m i.

- Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Hội đồng t phúc th m chấp nhận kháng cáo của bị cáo s a Bản án h nh sự sơ th m số 10/2024/HS-ST ngày 22/02/2024 của Tòa án nhân dân t nh Quảng B nh giảm h nh phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về thủ t c tố t ng:

Ngày 01/3/2024 Phạm Thị Quỳnh T kháng cáo in giảm nhẹ h nh phạt. Đơn kháng cáo của bị cáo có ác nhận của Trư ng nhà tạm giữ Công an thành phố Đ t nh Quảng B nh. Theo quy định tại khoản 1 và điểm b khoản 3 Điều 333 của Bộ luật Tố t ng h nh sự th bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định được em t theo thủ t c phúc th m.

. X t nội dung kháng cáo:

. Về tội danh:

Ngày 23/11/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an t nh Q bắt quả tang Phạm Thị Quỳnh T đang chia nhỏ 7.872 49 gam chất ma túy loại Ketamine và đang tàng trữ 3.111 viên ma túy loại MDMA khối lượng 1.579 07 gam v i m c đích bán cho người khác để lấy tiền. Quá tr nh điều tra T khai là người nhận và chuyển ma túy thuê cho người ph nữ tên “Bẹp” để lấy tiền công. Cơ quan điều tra ác định “Bẹp” tên thật là Nguyễn Thị Lan H1 đã uất cảnh sang Cộng hòa liên bang Đ cư trú từ n m 2019 chưa tr về Việt Nam nên chưa có đủ c n cứ k t luận H1 là người cung cấp ma túy và ch đạo T chia nhỏ bán cho người khác. Cơ quan có th m quyền ti p t c ác minh khi có đủ c n cứ sẽ lý Hương theo quy định của pháp luật. Mặt khác giả s lời khai của T là đúng th bị cáo vẫn phải chịu trách nhiệm h nh sự về tội phạm mà m nh đã thực hiện v i vai trò người thực hành.

Do đó Toà án cấp sơ th m k t án bị cáo Phạm Thị Quỳnh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 của Bộ luật H nh sự là có c n cứ đúng người đúng tội đúng pháp luật.

. Về h nh phạt:

Bị cáo Phạm Thị Quỳnh T là người có đầy đủ n ng lực trách nhiệm h nh sự nhận thức được chất ma tuý là các chất gây nghiện chất hư ng thần do Nhà nư c độc quyền quản lý nhưng v hám lợi bị cáo vẫn mua bán trái ph p v i số lượng rất l n. Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng v vậy cần phải phạt bị cáo mức án thật nghiêm khắc m i đảm bảo được tính r n đe cải tạo giáo d c cũng như công tác phòng ngừa chung đối v i loại tội phạm nguy hiểm này.

Quá tr nh giải quy t v án bị cáo thành kh n khai báo n n n hối cải; tích cực hợp tác v i cơ quan điều tra trong quá tr nh giải quy t v án; bị cáo có thành tích cứu người bị đuối nư c tại thị trấn Nông trường V huyện B t nh Quảng B nh và tích cực tham gia phòng chống dịch Covid-19 tại phường B thành phố Đ t nh Quảng B nh được chính quyền tại các địa phương ác nhận tặng Giấy khen; gia đ nh của bị cáo có công v i N1 được tặng thư ng nhiều Huân Huy chương nên Tòa án cấp sơ th m đã áp d ng các t nh ti t giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự quy định tại các điểm s t khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật H nh sự là phù hợp. Tòa án cấp sơ th m cũng nhận định bị cáo là ph nữ đang nuôi con dư i 36 tháng tuổi khi phạm tội nhưng không áp d ng quy định tại khoản 2 Điều 40 của Bộ luật H nh sự khi quy t định h nh phạt.

Hội đồng t phúc th m thấy rằng thời điểm Phạm Thị Quỳnh T thực hiện hành vi phạm tội con gái ruột của bị cáo (cháu Phạm Thị B ng D2) m i 01 tuổi 08 tháng. Khoản 2 Điều 40 của Bộ luật H nh sự quy định không áp d ng h nh phạt t h nh đối v i ph nữ đang nuôi con dư i 36 tháng tuổi khi phạm tội. Theo quy định nhân đạo này th trong mọi trường hợp dù bị cáo phạm tội g nghiêm trọng đ n đâu có hay không có t nh ti t t ng nặng giảm nhẹ mức h nh phạt nghiêm khắc nhất mà Tòa án được ph p áp d ng cũng ch là tù chung thân. Hay nói cách khác đối v i ph nữ đang nuôi con dư i 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi bị t th tù chung thân là h nh phạt nặng nhất mà Tòa án có thể áp d ng. Đây là chính sách nhân đạo đặc biệt của Nhà nư c đối v i ph nữ và trẻ em. Việc Tòa án cấp sơ th m phạt Phạm Thị Quỳnh T tù chung thân trong trường hợp này là đã áp d ng mức h nh phạt nghiêm khắc nhất đối v i bị cáo (tương đương v i áp d ng h nh phạt t h nh đối v i trường hợp thông thường).

Xem t toàn diện v án thấy rằng bị cáo là mẹ đơn thân tuổi đời còn rất trẻ nhưng đã phải một m nh bươn chải nuôi con nhỏ; ch v hám lợi trư c mắt nên phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Trong quá tr nh giải quy t v án bị cáo luôn thành kh n khai báo tỏ ra vô cùng n n n hối cải về hành vi phạm tội của m nh; tích cực hợp tác v i cơ quan điều tra trong quá tr nh giải quy t v án; có thành tích cứu người bị đuối nư c và tích cực tham gia phòng chống đại dịch Covid-19 được chính quyền tại các địa phương ác nhận tặng Giấy khen; gia đ nh của bị cáo có công v i N1; trư c khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt. Tại giai đoạn phúc th m bị cáo cung cấp thêm các tài liệu: (1) Đơn tr nh bày của Bà mẹ Việt Nam anh hùng Hồ Thị H2 có nội dung in giảm h nh phạt cho bị cáo v i lý do bị cáo là con nuôi có công ch m sóc ph ng dưỡng Bà nội dung đơn có ác nhận của chính quyền địa phương; (2) Giấy ác nhận của Hiệu trư ng Trường P bán trú TH và THCS L1 về việc bị cáo tham gia nhiều hoạt động thiện nguyện tại Trường trư c khi phạm tội; (3) Biên lai nộp án phí h nh sự sơ th m thể hiện ý thức chấp hành pháp luật tôn trọng phán quy t của Tòa án. Đây là những t nh ti t giảm nhẹ m i quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật H nh sự mà bị cáo được hư ng. Tham dự phiên tòa phúc th m Mẹ Việt Nam anh hùng Hồ Thị H2 tr nh bày bản thân tuổi cao sức y u hoàn cảnh neo đơn bị cáo T là chỗ dựa tinh thần trong những n m tuổi già; tâm nguyện tha thi t in Hội đồng t

em t giảm nhẹ cho bị cáo một phần h nh phạt để bị cáo có cơ hội s a chữa lỗi lầm s m tr về v i gia đ nh thành công dân có ích cho ã hội. X t thấy bị cáo phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 40 của Bộ luật H nh sự lại có nhiều t nh ti t giảm nhẹ theo khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật H nh sự nên cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo cũng là đáp ứng tâm nguyện của Mẹ Việt Nam anh hùng Hồ Thị H2 giảm cho bị cáo một phần h nh phạt. Việc giảm h nh phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo khoan hồng của pháp luật và của nền Tư pháp Việt Nam đối v i người phạm tội là người có hoàn cảnh o le bi t n n n hối cải cố gắng s a chữa lỗi lầm. Bên cạnh đó việc giảm cho bị cáo một phần h nh phạt còn thể hiện sự nhân v n không ch đối v i bị cáo mà còn đối v i con của bị cáo cho bị cáo cơ hội tích cực cải tạo tốt s m tr về v i gia đ nh là chỗ dựa cho con gái của m nh. Mặt khác việc giảm h nh phạt cho bị cáo cũng thể hiện sự tri ân đặc biệt đối v i người có công lao v i đất nư c v i dân tộc - Mẹ Việt Nam anh hùng Hồ Thị H2.

. Về án phí: do kháng cáo được chấp nhận nên theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quy t số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và s d ng án phí và lệ phí Toà án bị cáo Phạm Thị Quỳnh T không phải chịu án phí h nh sự phúc th m.

. Các quy t định khác của bản án sơ th m không có kháng cáo không bị kháng nghị Hội đồng t phúc th m không t.

V các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. C n cứ điểm b khoản 1 Điều 355 điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố t ng h nh sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Thị Quỳnh T s a Bản án h nh sự sơ th m số 10/2024/HS-ST ngày 22/02/2024 của Tòa án nhân dân t nh Quảng B nh.

Áp d ng điểm h khoản 4 Điều 251 Điều 38; khoản 2 Điều 40; các điểm s t khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật H nh sự.

X phạt bị cáo Phạm Thị Quỳnh T 20 (hai mươi) n m tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ tạm giam (ngày 23/11/2022).

2. Về án phí h nh sự phúc th m: c n cứ Điều 135 Điều 136 của Bộ luật Tố t ng h nh sự; áp d ng điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và s d ng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Phạm Thị Quỳnh T không phải chịu án phí h nh sự phúc th m.

3. Các quy t định khác của bản án h nh sự sơ th m không bị kháng cáo không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày h t thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án h nh sự phúc th m có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ