vanban.org

Bản án 260/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 29/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang H 12 (mười hai) năm tù.

Phạt tiền bị cáo Nguyễn Quang H 10.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước. Về vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quang H phạm tội mua bán trái phép ma tuý - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang H 12 (mười hai) năm tù.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 260/2023/HS-ST
Ngày 29-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Hữu Trường

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Hồng Thuý

Ông Phạm Mạnh Hùng

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tươi - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thuận - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 242/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 246/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Quang H, sinh ngày 23/9/1981 tại Hải Phòng; Nơi cư trú: Số A đường M, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn Q và bà Phạm Thị K; có vợ là Nguyễn Phương V; có 01 con, sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 25/HSST ngày 25/01/2000 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt Nguyễn Quang H 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội Cố ý gây thương tích, hiện đã được xóa án tích; bị cáo bị bắt giữ từ ngày 27/02/2023, ngày 01/3/2023 chuyển tạm giam; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Đồng Văn T, sinh năm 1989, nơi cư trú: Số C P, A, L, Hải Phòng; có mặt;

Anh Hoàng Văn L, sinh năm 1994, nơi cư trú: Số C C, N, Hải Phòng; có mặt;

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Hạnh P, ông Nguyễn Văn Q, bà Đỗ Thị T1, ông Nguyễn Thế C, ông Đồng Trọng H1; ông Q và ông ông P, có mặt; bà T1, ông C và ông H1, đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 20 phút ngày 27/02/2023, tại khu vực trước cửa nhà số A đường M, quận L, thành phố Hải Phòng, tổ công tác thuộc Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an quận L phát hiện Nguyễn Quang H và một đối tượng nam giới có dấu hiệu thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy nên tiến hành kiểm tra. Phát hiện lực lượng Công an, đối tượng nam giới điều khiển xe mô tô bỏ chạy thoát; tiến hành kiểm tra Nguyễn Quang H, tổ công tác phát hiện tại túi quần trước của H đang mặc có 01 gói giấy ăn màu trắng, trong có 01 túi nilon màu trắng, mép viền màu xanh, kích thước 2,5x3 cm, đựng 07 viên nén màu hồng và 01 túi nilon màu trắng, mép viền màu xanh, kích thước 2x2 cm đựng tinh thể màu trắng. Khi bị bắt giữ, Nguyễn Quang H khai nhận 07 viên nén màu hồng là ma túy hồng phiến và tinh thể màu trắng là ma túy đá, H cầm theo để bán cho một người đàn ông tên D với giá 100.000 đồng/viên hồng phiến, số ma túy đá huy bán cho D với giá 300.000 đồng, H đã nhận được của D 1.000.000 đồng nhưng chưa kịp giao ma túy cho D thì bị phát hiện, bắt quả tang. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng, niêm phong, gửi giám định. Ngoài ra Cơ quan Công an còn thu giữ của H 01 điện thoại Iphone đã qua sử dụng và 1.860.000 đồng (bút lục 37-38).

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Quang H tại số A đường M, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng, Cơ quan điều tra thu giữ tại nhiều vị trí tại nơi ở của Nguyễn Quang H tổng số 154 viên nén màu hồng, 02 viên nén màu xanh, 01 túi nilon kích thước 2,5x2,5 cm, trong chứa tinh thể màu trắng và 01 gói giấy đựng chất bột màu hồng. Cơ quan điều tra đã tiến hành niêm phong gửi giám định. Ngoài ra Cơ quan điều tra còn thu giữ của Nguyễn Quang H 01 túi nilon, trong có 01 cân điện tử đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động và 01 Giấy thông hành mang tên Trần Văn Q1; 01 hộp giấy, bên trong có 30 vỏ túi nilon kích thước 2,5x3 cm và 01 ống hút được cuộn lại từ tờ tiền 10.000 đồng (không có chất bám dính); thu giữ 01 bộ dụng cụ dử dụng ma túy đá.

Tại Bản kết luận giám định số 207/KL-KTHS(MT) ngày 01/3/2023 của Phòng K1 - Công an thành phố H kết luận 07 viên nén màu hồng và tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Quang H khi bắt quả tang là ma túy Methamphetamine, có khối lượng lần lượt là 0,71 gam và 0,19 gam.

Tại Bản kết luận giám định số 208/KL-KTHS(MT) ngày 03/3/2023 của Phòng K1 - Công an thành phố H kết luận chất bột màu hồng thu giữ của Nguyễn Quang H khi khám xét khẩn cấp nơi ở của H có khối lượng 8,60 gam, không tìm thấy các chất ma túy và tiền chất; đối với các viên nén màu xanh, viên nén màu hồng và tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Quang H khi khám xét khẩn cấp nơi ở của H đều là ma túy Methamphetamine, có tổng khối lượng là 16,85 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Quang H khai nhận đã nhiều lần mua ma túy gồm hồng phiến (viên nén màu hồng và viên nén màu xanh), thuốc lắc và ma túy Methamphetamine của Đồng Văn D1 để sử dụng và để bán kiếm lời. Quá trình mua ma túy của D1, H có thể mua nhiều lần rồi chuyển tiền thanh toán qua tài khoản ngân hàng cho D1 sau hoặc chuyển tiền thanh toán qua tài khoản ngân hàng ngay khi mua ma túy. Ngày 01/02/2023 H đã chuyển khoản cho D1 6.500.000 đồng, ngày 22/02/2023 H đã chuyển khoản cho D1 2.400.000 đồng và ngày 27/02/2023 H đã chuyển khoản cho D1 5.000.000 đồng đều là tiền để mua ma túy. Trong đó lần chuyển khoản vào ngày 01/02/2023 và ngày 22/02/2023 là tiền H thanh toán của nhiều lần mua ma túy gồm hồng phiến, thuốc lắc và ma túy Methamphetamine, đối với những lần này, H không nhớ cụ thể số lượng, khối lượng ma túy hồng phiến, thuốc lắc và ma túy Methamphetamine. Đối với lần chuyển khoản vào ngày 27/02/2023 là tiền H mua của D1 200 viên hồng phiến. Số ma túy mua được, H đã bán cho nhiều người, trong đó vào ngày 26/02/2023 H đã đổi cho một người nữ giới tên H2 (H không biết lý lịch, địa chỉ) 13 viên hồng phiến để lấy ma túy Methamphetamine. Ngày 27/02/2023, H cầm theo 07 viên hồng phiến và ma túy Methamphetamine để bán cho một đối tượng tên D1 (hiện chưa xác định được lý lịch, địa chỉ) với giá 1.000.000 đồng thì bị bắt quả tang như đã nêu trên.

Căn cứ lời khai của Nguyễn Quang H, ngày 07/3/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận L đã tiến hành khám xét nơi ở của Đồng Văn D1 tại tổ C, xóm T, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng, kết quả khám xét Cơ quan điều tra thu giữ tại nhiều vị trí tại nơi ở của D1 chất bột màu trắng được gói bằng tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng, 01 túi nilon kích thước 8,5x13 cm trong chứa chất bột màu trắng dạng cục, nhiều viên nén màu hồng và nhiều viên nén màu xanh, chất bột màu hồng, chất bột màu trắng được đóng thành bánh hình khối chữ nhật, chất bột màu trắng dạng cục, 09 viên nén màu nâu, 69 viên nén và các mảnh viên nén màu cam. Cơ quan điều tra đã tiến hành niêm phong gửi giám định. Ngoài ra Cơ quan điều tra còn thu giữ của Đồng Văn D1 01 01 cân điện tử nhãn hiệu Marlboro đã qua sử dụng, 30 vỏ túi nilon kích thước 7x11 cm, 40 vỏ túi nilon kích thước 4x4 cm, 30 vỏ túi nilon kích thước 2,5x2 cm, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone đã qua sử dụng và 70.000.000 đồng.

Tại Bản kết luận giám định số 229/KL-KTHS(MT) ngày 10/3/2023 của Phòng K1 - Công an thành phố H kết luận chất bột màu trắng được gói bằng tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng và chất bột màu trắng dạng cục trong túi nilon kích thước 8,5x13 cm là ma túy Ketamine, có tổng khối lượng 29,75 gam; các viên nén màu hồng và các viên nén màu xanh là ma túy Methamphetamine, có tổng khối lượng là 1.179,46 gam; chất bột màu hồng là hỗn hợp ma túy Heroine và ma túy Methamphetamine, có khối lượng là 2,36 gam; chất bột màu trắng được đóng thành bánh hình khối chữ nhật và chất bột màu trắng dạng cục là ma túy Heroine, có tổng khối lượng là 355,64 gam; 09 viên nén màu nâu và 69 viên nén cùng các mảnh viên nén màu cam là ma túy MDMA, có tổng khối lượng là 42,76 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Đồng Văn D1 khai nhận chỉ bán cho Nguyễn Quang H 200 viên nén ma túy màu hồng vào ngày 27/02/2023 với giá 5.000.000 đồng (tương ứng 25.000 đồng/01 viên) và đã từng bán cho H ma túy Methamphetamine với giá 420.000 đồng/01 gam. Về nguồn gốc số ma túy Ketamine, D1 khai nhận mua của một đối tượng tên Quyền T2 ở H - Q nhưng D1 không biết lý lịch, địa chỉ. Đối với số ma túy Heroine và các viên nén ma túy màu hồng và màu xanh là của một đối tượng tên N, là người quen của Quyền T2 cầm đến nhà của D1, nhờ D1 bán hộ với giá 2.500.000 đồng/200 viên (tương ứng 12.500 đồng/01 viên). Còn các viên nén ma túy màu nâu và màu cam là D1 mua của H với giá 140.000 đồng/01 viên.

Mặc dù Đồng Văn D1 không thừa nhận đã nhiều lần bán trái phép chất ma túy, trong đó có ma túy dạng viên nén MDMA cho Nguyễn Quang H, nhưng căn cứ vào lời khai của Nguyễn Quang H phù hợp với kết quả giám định điện thoại, phù hợp với vật chứng thu giữ, phù hợp vớ tài liệu sao kê tài khoản ngân hàng của D1 và H cũng như các kết quả giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ hồ sơ, có đó đủ cơ sở xác định:

- Trong khoảng thời gian từ ngày 01/02/2023 đến ngày 27/02/2023, Nguyễn Quang H đã nhiều lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Trong đó ngày 26/02/2023 H đã bán cho một đối tượng nữ giới tên H2 13 viên nén ma túy màu hồng và ngày 27/02/2023 H bán cho một người nam giới tên D1 0,9 gam chất ma túy Methamphetamine gồm 07 viên nén ma túy Methamphetamine màu hồng và 01 túi tinh thể ma túy Methamphetamine. Đồng thời Nguyễn Quang H tiếp tục cất giữ 16,85 gam chất ma túy Methamphetamine gồm 154 viên nén màu hồng 02 viên nén màu xanh và tinh thể màu trắng để nhằm mục đích mua bán. Đối với 52 viên nén ma túy màu hồng bao gồm 13 viên nén ma túy H đã bán cho H2 vào ngày 26/02/2023 và 39 viên nén màu hồng H đã bán, không thu giữ được nên tính theo khối lượng của viên có khối lượng thấp nhất là 0,1 gam/01 viên thì khối lượng của 52 viên nén ma túy màu hồng không thu giữ được sẽ là 0,1 gam x 52 = 5,2 gam.

Như vậy, Cơ quan điều tra đã chứng minh trong khoảng thời gian từ ngày 01/02/2023 đến ngày 27/02/2023, Nguyễn Quang H đã bán và cất giữ nhằm mục đích mua bán là 0,9 gam + 16,85 gam + 5,2 gam = 22,95 gam chất ma túy Methamphetamine.

- Trong khoảng thời gian từ 01/02/2023 đến ngày 27/02/2023, Đồng Văn D1 đã nhiều lần bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Quang H và đã được H thanh toán cho 03 lần với tổng số tiền là 13.900.000 đồng. Cơ quan điều tra đã chứng minh D1 đã bán cho H ít nhất 213 viên nén màu hồng, có khối lượng là 22,61 gam chất ma túy Methamphetamine ngoài ra D1 còn cất giữ 29,75 gam chất ma túy Ketamine, 1.179,46 gam chất ma túy Methamphetamine; 2,36 gam hỗn hợp ma túy Heroine và ma túy Methamphetamine, 355,64 gam ma túy Heroine và 42,76 gam ma túy MDMA để nhằm mục đích mua bán.

Như vậy, Cơ quan điều tra đã chứng minh trong khoảng thời gian từ ngày 01/02/2023 đến ngày 27/02/2023, Đồng Văn D1 đã bán và cất giữ nhằm mục đích mua bán là 22,61 gam + 1.179,46 gam = 1.202,07 gam chất ma túy Methamphetamine, 29,75 gam chất ma túy Ketamine, 2,36 gam hỗn hợp ma túy Heroine và ma túy Methamphetamine, 355,64 gam ma túy Heroine và 42,76 gam ma túy MDMA.

Tại bản cáo trạng số 242/CT-VKS-P1 ngày 03/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Nguyễn Quang H về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Quang H khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, việc truy tố, xét xử bị cáo là không oan. Bố bị cáo H là ông Nguyễn Văn Q giao nộp thêm các tài liệu được Chính phủ Lào tặng thưởng vì đã tham gia làm nhiệm vụ quốc tế trong giai đoạn chống Mỹ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phân tích hành vi phạm tội, đánh giá tính chất vụ án, nêu tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm b, i khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Quang H từ 10 năm đến 12 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Phạt tiền bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định, túi nilon, 01 cân điện tử màu đen, các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

Tịch thu sung quỹ 1.000.000 đồng là số tiền H đã bán ma tuý cho đối tượng D1.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Quang H số tiền 870.000 đồng bao gồm 860.000 đồng thu giữ của bị cáo và tờ tiền 10.000 đồng bị cáo dùng để cuộn làm ống hút ma tuý, nhưng bị cáo chưa sử dụng.

Trả lại cho những người thừa kế của Đồng Văn D1 số tiền trong tài khoản của Đồng Văn D1.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Hồi 17 giờ 23 phút ngày 14/12/2023 bị cáo Đồng Văn D1 tử vong do bệnh lý. Ngày 19/12/2023 Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã ra Quyết định đình chỉ số 02/2023/HSST-QĐ đình chỉ xét xử đối với bị cáo Đồng Văn D1, nhưng vẫn xem xét xử lý vật chứng và những vấn đề liên quan trong vụ án này.

Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà và tại Cơ quan điều tra phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định: Trong khoảng thời gian từ ngày 01/02/2023 đến ngày 27/02/2023, Đồng Văn D1 đã nhiều lần bán và cất giữ nhằm mục đích mua bán 1.202,07 gam chất ma túy Methamphetamine, 29,75 gam chất ma túy Ketamine, 2,36 gam hỗn hợp ma túy Heroine và ma túy Methamphetamine, 355,64 gam ma túy Heroine và 42,76 gam ma túy MDMA. Trong khoảng thời gian từ ngày 01/02/2023 đến ngày 27/02/2023, Nguyễn Quang H đã nhiều lần bán và cất giữ nhằm mục đích mua bán 22,95 gam chất ma túy Methamphetamine. Như vậy có đủ cơ sở kết luận, bị cáo Nguyễn Quang H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật.

Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự xã hội. Ma túy là tệ nạn xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người, làm khánh kiệt kinh tế gia đình và là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác, hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo làm gia tăng tệ nạn ma túy do vậy cần xử phạt nghiêm bị cáo theo mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị mới đủ tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo H không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, cũng cần xem xét bị cáo có nhân thân xấu, năm 2000 đã bị Toà án nhân dân quận Ngô Quyền xử phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội cố ý gây thương tích, mặc dù đã được xoá, nhưng đây cũng là yếu tố về nhân thân để Hội đồng xét xử xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo H có thái độ khai báo thành khẩn nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bố bị cáo cũng đã được Chính phủ Lào tặng thưởng vì đã tham gia làm nhiệm vụ quốc tế trong giai đoạn chống Mỹ, nên cũng cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Về hình phạt

Căn cứ tính chất vụ án và mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét thấy bị cáo H cất giữ nhằm mục đích mua bán và bán ma túy với số lượng (22,95gam) gần tới mức khởi điểm về khối lượng ma tuý quy định tại khoản 3 Điều 251, nên cần xem xét mức án giữa khung hình phạt mới đủ răn đe, trừng trị đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo H mua bán ma túy với số lượng lớn có mục đích thu lợi bất chính nên áp dụng hình phạt bổ sung theo đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng.

Về xử lý vật chứng: Đối với toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định và các đồ vật liên quan đến việc phạm tội của bị cáo cần tịch thu tiêu hủy; đối với các điện thoại thu giữa của bị cáo H và D1 cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

Số tiền 1.870.000 đồng thu giữ của bị cáo, trong đó có 1.000.000 đồng là tiền bán ma tuý cần tịch thu sung ngân sách nhà nước. Số tiền 870.000 đồng (gồm cả 10.000 đồng bị cáo cuộn thành ống để hút, nhưng bị cáo chưa sử dụng) là số tiền không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo.

Số tiền 37.617.578 đồng trong tài khoản của Đồng Văn D1, các tài liệu chưa có đủ cơ sở chứng minh số tiền này liên quan đến việc phạm tội. Nên cần trả lại cho gia đình bị cáo.

- Về vấn đề khác

Đối với những đối tượng Q2, T2 bán trái phép chất ma túy cho Đồng Văn D1, đối tượng tên N gửi ma túy nhờ Đồng Văn D1 bán hộ, đối tượng tên D1 và người phụ nữ tên H2 mua ma túy của Nguyễn Quang H do không xác định được lý lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b, i khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang H 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/02/2023.

Phạt tiền bị cáo Nguyễn Quang H 10.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.

2. Về vật chứng:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy:

- Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định đựng trong 01 phong bì niêm phong ma túy và bao bì có dấy niêm phong số: 207MT/PC09 và có chữ ký của Nguyễn Hạnh P, Trần Thị Thu H3, Nguyễn Quang H, Ninh Văn M và Đoàn Quốc H4; 01 phong bì đựng gói giấy bản màu trắng; 01 phong bì niêm phong ma túy và bao bì có dấu niêm phong số: 208MT/PC09 và có chữ ký của Đỗ Thị T1, Trần Thị Thu H3, Nguyễn Quang H, Phạm Đắc H5 và Đoàn Quốc H4; 01 hộp giấy niêm phong ma túy có dấu niêm phong số 229MT/PC09 có chữ ký của Phạm Hoàng H6, Đồng Văn D1, Nguyễn Văn T3, Ninh Văn M, Nguyễn Thế C1 và Nguyễn Thị Bích H7; 01 hộp giấy niêm phong vỏ bao gói còn lại sau giám định có dấu niêm phong số 229MT-A/PC09 và có chữ ký của Phạm Hoàng H6, Đồng Văn D1, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Thế C1 và Nguyễn Thị Bích H7;

- 01 túi giấy niêm phong giấy báo còn lại sau giám định có số niêm phong là 2123040 và có chữ ký của Ninh Văn M, Đồng Văn D1, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Thế C1 và Nguyễn Thị Bích H7; 01 cân điện tử; 01 túi hình trụ tròn màu nâu, 01 hộp nhựa hình trụ tròn màu trắng kích thước 4x3,5cm, 01 ví màu đen, 01 giấy thông hành số H 0410274 mang tên Trần Văn Q1, 01 hộp giấy, 30 vỏ túi nilon kích thước 2,5x3cm; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá bằng thủy tinh có gắn các nỏ thủy tinh và ống hút nhựa; 01 hộp giầy kích thước 35x24cm; 01 hộp màu nâu kích thước 13x6,5cm; 01 túi nilon màu đen; 01 hộp thủy tinh hình trụ kích thước 10x4,5cm; 01 cân điện tử ghi chữ Marlboro; 01 ví đựng tiền màu nâu; 30 vỏ túi nilon kích thước 7x11cm mép viền màu đỏ; 40 vỏ túi nilon kích thước 4x4cm mép viền màu xanh; 30 vỏ túi nilon kích thước 2,5x2cm mép viền màu đỏ.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng có số Imei1: 356169099026505, Imei2: 356169098669412 lắp sim dãy số 8401201124424701 tạm giữ của Nguyễn Quang H; 01 điện thoại di động màu đen không hoạt động có số khay sim là 353044093553213; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu vàng có số Imei 1: 355196757878811, Imei 2: 355196757998718 lắp sim ghi dãy số 8984048000330018057 thu của Đồng Văn D1; 01 phong bì niêm phong tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng có chữ ký của Ninh Văn M, Đồng Văn D1, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Thế C1 và Nguyễn Thị Bích H7 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an T;

Tịch thu số tiền 1.000.000 đồng thu giữ của bị cáo H bán ma tuý;

Trả lại cho bị cáo H số tiền 870.000 đồng, nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Tình trạng, đặc điểm các vật chứng thể hiện tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 02 tháng 11 năm 2023 tại Cục thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng và ủy nhiệm chi ký hiệu C4-02a/KB ngày 02/11/2023 của Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an T cho Cục thi hành án dân sự TP Hải Phòng.

Anh Đồng Văn T và anh Hoàng Văn L có quyền liên hệ với Ngân hàng TMCP Q3 - Chi nhánh H8 để làm thủ tục rút khoản tiền 37.617.587 đồng mang tên Đồng Văn D1 theo quy định của Ngân hàng. Toà án không xử lý thu giữ khoản tiền này.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Quang H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, Điều 333 của Bộ Luật Tố tụng Hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ