- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyên đơn: Ông Phùng Văn T, sinh năm 1973; Bà Trần Thị Ngọc D, sinh năm 1975; địa chỉ cư trú: Tổ B, khối T, phường T, thành phố H, tỉnh Quả…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Lê V.
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 105 Luật Đất đai; Điều 32 Luật Đất đai
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 260/2023/DS-PT Ngày: 12-9-2023 V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy quyết định cá biệt. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Việt Cường.
Các Thẩm phán:
Ông Trương Công Thi
Ông Nguyễn Tấn Long.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Mai - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng: Ông Đinh Văn Chánh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 12-9-2023, tại trụ sở. Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 36/2022/TLPT-DS ngày 07-3-2022 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy quyết định cá biệt”, do Bản án dân sự sơ thẩm số 69/2021/DS-ST ngày 21-12-2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3078/2023/QĐXX-PT ngày 25-8-2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Ông Phùng Văn T, sinh năm 1973; địa chỉ cư trú: Tổ B, khối T, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt.
2. Bà Trần Thị Ngọc D, sinh năm 1975; địa chỉ cư trú: Tổ B, khối T, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Phùng Văn T và bà Trần Thị Ngọc D: Ông Nguyễn Lê V, sinh năm 1976; địa chỉ cư trú: Số C K, phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng, có mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn:
Ông Kiều T1, sinh năm 1954; địa chỉ cư trú: Tổ G, khối B, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền:
Ông Phạm Xuân L; địa chỉ cư trú: Số H Đ, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ủy ban nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Nam; địa chỉ: Số I T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam.
Người đại diện theo ủy quyền:
Ông Nguyễn Văn Thành N - Chức vụ: Phó Trưởng phòng Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố H, vắng mặt.
2. Văn phòng Đ; địa chỉ: Số I H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam.
Người đại diện theo ủy quyền:
Ông Trần Văn C - Chức vụ: Phó Giám đốc Văn phòng Đ, vắng mặt.
3. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1953; địa chỉ cư trú: Tổ G, khối B, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt.
4. Ông Huỳnh Anh T2, sinh năm 1978; địa chỉ cư trú: Số G T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt.
5. Bà Bùi Thị S; địa chỉ cư trú: Tổ G, khối B, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt.
6. Ông Kiều Á, sinh năm 1968; địa chỉ cư trú: Số E N, thành phố H, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt.
7. Bà Kiều Thị N1, sinh năm 1969; địa chỉ cư trú: Số D N, thành phố H, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt.
8. Bà Kiều Thị L1, sinh năm 1971; địa chỉ cư trú: K, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt.
9. Bà Kiều Thị M, sinh năm 1973; địa chỉ cư trú: Tổ G, khối B, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt.
10. Ông Kiều Văn H1, sinh năm 1975; địa chỉ cư trú: Tổ G, khối B, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn trình bày:
Ngày 19-10-2005, v ch ng ông Phùng Văn T và bà Trần Thị Ngọc D nhận chuyển như ng của ông Kiều C1 và bà Bùi Thị S diện t ch đất 200 m2 tại khối B (nay là tổ G, khối B) phường T, thị xã H, tỉnh Quảng Nam, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 399695 ngày 07-10-2005, do Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) thị xã H cấp cho ông Kiều C1 và bà Bùi Thị S, đư c Chi nhánh Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất H chỉnh lý sang tên ngày 20-11-2005.
Sau khi nhận chuyển như ng, do chưa có nhu cầu sử dụng nên ông T, bà D chưa xác định ranh gi i. Đến năm 2016, ông T, bà D có nhu cầu làm nhà ở, nên m i xác định ranh gi i để xây dựng nhà. Tuy nhiên, khi đo đạc để xác định ranh gi i thì phát hiện h ông Kiều T1 lấn chiếm m t phần diện t ch đất của ông T, bà D ở ranh gi i ph a Nam (phần diện t ch lấn chiếm qua đo đạc là 1,7 m2) nên ông, bà đã làm đơn đề nghị ch nh quyền địa phương can thiệp. Ngày 08-6-2016, UBND phường T đã lập Biên bản giải quyết tranh chấp đất của h ông Phùng Văn T và ông Kiều T1, nhưng không thành.
Ngày 20-5-2017, ông Phùng Văn T, bà Trần Thị Ngọc D tiếp tục nhận chuyển như ng của ông Huỳnh Văn T3 diện t ch 270 m2 đất tại khối B phường T, thành phố H, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND thị xã H cấp ngày 02-11-2006 cho ông Huỳnh Văn T3, đư c Chi nhánh Văn phòng Đ1 chỉnh lý sang tên ngày 20-5-2017 (phần diện t ch đất này n m sát phần diện t ch đất ông T3, bà D nhận chuyển như ng từ ông Kiều C1, bà S từ năm 2005 và có ranh gi i ph a Tây giáp v i phần đất của ông Kiều T1).
Sau khi nhận chuyển như ng đất, ông Phùng Văn T, bà Trần Thị Ngọc D phát hiện gia đình ông Kiều T1 đang sử dụng phần đất có diện t ch qua đo đạc là 98,3 m2 có ranh gi i ph a Tây giáp v i phần đất của ông Kiều T1 để xây dựng cổng ng làm lối đi. Sau khi phát hiện việc ông T1 lấn chiếm, sử dụng phần diện t ch đất thu c quyền sử dụng h p pháp của mình, ông T, bà D đã nhiều lần yêu cầu gia đình ông T1 chấm dứt hành vi lấn chiếm, nhưng ông T1 không đ ng ý.
Ngày 12-4-2018, ông T, bà D có đơn yêu cầu UBND phường T giải quyết tranh chấp. Đến ngày 29-5-2018, UBND phường T đã tổ chức hoà giải giữa các bên. Tại Biên bản hoà giải ngày 29-5-2018, ông T1 v n cho r ng phần đất ông lấn chiếm của ông T, bà D là đất ông khai hoang, cải tạo sử dụng và không đ ng ý tháo d các công trình xây dựng để trả lại đất.
Hiện nay, phần diện t ch đất h ông Kiều T1 lấn chiếm của ông T, bà D trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND thị xã H cấp ngày 07-10-2005 là 1,7 m2 và trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND thị xã H cấp ngày 02-11-2006 là 98,3 m2; tổng c ng, diện t ch đất mà ông T1 lấn chiếm qua đo đạc thực tế hiện nay là 100 m2.
Vì vậy, ông Phùng Văn T, bà Trần Thị Ngọc D khởi kiện yêu cầu Toà án bu c ông Kiều T1 phải tháo d tài sản có trên phần đất lấn chiếm và trả lại đất cho ông bà, cụ thể: Phần diện t ch đất lấn chiếm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND thị xã H cấp ngày 07-10-2005 là 1,7 m2; phần diện t ch đất lấn chiếm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND thị xã H cấp ngày 02-11-2006 là 98,3 m2. Tổng c ng, phần diện t ch lấn chiếm qua đo đạc thực tế hiện nay có diện t ch là 100 m2.
Bị đơn trình bày:
Nguyên trư c đây h gia đình ông Kiều T1 ở tại khối B, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam có quản lý, sử dụng diện t ch đất khoảng hơn 1.000 m2 có nhà ở và các tài sản khác trên đất.
Khoảng năm 1983, ông Kiều T1 đăng ký kê khai quyền sử dụng đất theo h sơ 201/CP chung v i h gia đình ông Kiều C1 ở bên cạnh, v i diện t ch là 2.113 m2, loại đất thổ cư, thu c thửa đất số 142, tờ bản đ số 07 tại phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Do ông T1 và ông C1 là họ hàng nên hai h gia đình đăng ký kê khai đất chung và tại thời điểm này nhà và đất giữa hai h chưa xây dựng tường rào kiên cố ngăn cách, mà chỉ làm hàng rào tạm b để hai bên đi lại.
Đến khoảng năm 1985, h gia đình ông Kiều T1 và h gia đình ông Kiều C1 đã xây dựng tường rào ngăn cách đất giữa hai h b ng tường xây ở ph a dư i và đổ trụ bê tông rào lư i B40 cao khoảng 1,5 m ở ph a trên.
Đến năm 1998, cha ông Kiều T1 là ông Kiều P (chết năm 1998) đại diện cho h gia đình đăng ký xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đắt (sau đây viết tắt là CNQSDĐ) và đã đư c UBND thị xã H (nay thành phố H) cấp Giấy CNQSDĐ v i diện t ch 870 m2, loại đất ở và đất vườn, thu c thửa đất số 286, tờ bản đ số 3 tại phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam nhưng không có sơ đ thửa đất kèm theo nên không r chiều r ng, chiều dài cụ thể như thế nào.
Đến năm 2005, ông Kiều T1 làm thủ tục xin phép sửa chữa, cải tạo nhà ở cũ đư c xây dựng vào năm 1980 và đã đư c Phòng Quản lý đô thị H cấp Giấy phép ngày 06-7-2005.
Qua tìm hiểu, ông Kiều T1 đư c biết việc UBND thành phố H cấp Giấy CNQSDĐ cho ông Kiều C1 và bà Bùi Thị S ngày 02-10-2005 là không đúng ranh gi i, mốc gi i giữa đất hai h và việc UBND thành phố H cấp Giấy CNQSDĐ cho ông Huỳnh Anh T2 là không đúng v i hiện trạng sử dụng đất của h gia đình ông Kiều T1.
Do đó, ông Kiều T1 không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; đ ng thời, có yêu cầu phản tố, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết:
- Bu c v ch ng ông Phùng Văn T và bà Trần Thị Ngọc D phải chấm dứt hành vi cản trở, tranh chấp quyền sử dụng đất v i ông.
- Hủy Giấy CNQSDĐ do U (nay là thành phố H) cấp ngày 02-11-2006 cho ông Huỳnh Anh T2 và hủy đăng ký biến đ ng sang tên cho ông Phùng Văn T và bà Trần Thị Ngọc D ngày 20-5-2017.
- Hủy Giấy CNQSDĐ do U (nay là thành phố) H i An cấp ngày 07-10-2005 cho ông Kiều C1 và bà Bùi Thị S và hủy đăng ký biến đ ng sang tên cho ông ông Phùng Văn T, bà Trần Thị Ngọc D ngày 20-11-2005.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Bùi Thị S trình bày:
Ch ng bà là ông Kiều C1 (chết năm 2011), v ch ng bà có 05 người con g m: (1) Kiều Ánh, (2) Kiều Thị N1, (3) Kiều Thị L1, (4) Kiều Thị M và (5) Kiều Văn H1. Bà không đ ng ý yêu cầu của ông Kiều T1 về việc hủy Giấy CNQSDĐ số AD 399695 do UBND thị xã (nay là thành phố) H i An cấp ngày 07-10-2005 cho v ch ng bà.
- Ông Kiều Văn H1: Thống nhất như lời khai của bà Bùi Thị S.
- UBND thành phố H trình bày:
Ngày 20-4-2006, ông Huỳnh Anh T2 nhận chuyển như ng quyền sử dụng đất từ bà Kiều Thị C2 tại thửa đất số 282, tờ bản đ số 3, diện t ch 270 m2 theo H p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất số 21/CN. Ngày 02-11-2006, ông Huỳnh Anh T2 đư c UBND thị xã (nay là thành phố) H i An cấp Giấy CNQSDĐ tại thửa đất trên.
Ngày 30-9-1997, ông Kiều C1 đư c UBND thị xã H cấp Giấy CNQSDĐ tại thửa đất số 287, tờ bản đ số 3, diện t ch 756 m2, do ông đứng tên kê khai. Ngày 12-9-2005, ông Kiều C1 lập thủ tục tách thửa, thửa đất m i hình thành là thửa số 287A, tờ bản đ số 3, diện t ch 200 m2. Ngày 07-10-2005, ông C1 và bà S đã đư c UBND thị xã H cấp Giấy CNQSDĐ.
Việc UBND thành phố H cấp Giấy CNQSDĐ cho ông Huỳnh Anh T2, ông Kiều C1 và bà Bùi Thị S là đúng quy định của pháp luật. Do đó, không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của bị đơn về việc hủy các Giấy CNQSDĐ nêu trên.
- Văn phòng Đ, do ông Trần Văn C đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ông Huỳnh Anh T2 và ông Kiều C1 sử dụng đất đư c UBND thành phố H cấp Giấy CNQSDĐ vào các năm 2005 và 2017. Ông Huỳnh Anh T2 và ông Kiều C1 đã lập thủ tục chuyển như ng quyền sử dụng đất cho ông Phùng Văn T, bà Trần Thị Ngọc D. H sơ chuyển như ng đư c UBND phường T xác nhận, các bên đã hoàn thành nghĩa vụ tài ch nh đối v i Nhà nư c. Do đó, Chi nhánh Văn phòng Đ1 đã thực hiện việc chỉnh lý biến đ ng tên từ ông Huỳnh Anh T2 sang ông Phùng Văn T, bà Trần Thị Ngọc D (năm 2017), từ ông Kiều C1 sang ông Phùng Văn T, bà Trần Thị Ngọc D (năm 2005) là đúng quy định của pháp luật, nên không có cơ sở để hủy bỏ n i dung chỉnh lý biến đ ng theo yêu cầu của bị đơn.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 69/2021/DS-ST ngày 21-12-2021, Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam:
Căn cứ vào các Điều 26, 34, 37 và 39, khoản 2 Điều 244 của B luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 10, Điều 32 và Điều 105 của Luật Đất đai năm 2003; điểm đ khoản 1 điều 12 và Điều 48 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc h i, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án, xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Phùng Văn T và bà Trần Thị Ngọc D về việc bu c bị đơn là ông Kiều T1 phải tháo d các vật kiến trúc trả lại phần diện t ch đất 1,7 m2 n m trong thửa đất số 287A, tờ bản đ số 3, diện t ch 200 m2 (nay là thửa đất số 99A, tờ bản đ số 60) tại khối B, phường T, thành phố H cho ông Phùng Văn T và bà Trần Thị Ngọc D (có sơ đ bản vẽ kèm theo bản án).
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Kiều T1 về việc: Bu c v ch ng ông Phùng Văn T và bà Trần Thị Ngọc D chấm dứt hành vi cản trở, tranh chấp quyền sử dụng đất v i ông Kiều T1; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND thị xã (nay là thành phố) H i An cấp ngày 02-11-2006 cho ông Huỳnh Anh T2; hủy đăng ký biến đ ng sang tên cho ông Phùng Văn T và bà Trần Thị Ngọc D ngày 20-5-2017; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND thị xã (nay là thành phố) H i An cấp ngày 07-10-2005 cho ông Kiều C1 và bà Bùi Thị S và hủy đăng ký biến đ ng sang tên cho ông Phùng Văn T, bà Trần Thị Ngọc D ngày 20-11-2005.
- Công nhận phần diện t ch 98,3 m2 đất n m trong thửa đất số 282, tờ bản đ số 3, diện t ch 270 m2 (nay là thửa đất số 282, tờ bản đ số 60) tại khối B, phường T, thành phố H thu c quyền quản lý, sử dụng của ông Kiều T1 (có sơ đ bản vẽ kèm theo bản án).
Ông Kiều T1 phải thối trả giá trị của diện t ch đất 98,3 m2 là 355.063.800 đ ng (ba trăm năm mươi lăm triệu không trăm sáu mươi ba nghìn tám trăm đ ng) cho ông Phùng Văn T và bà Trần Thị Ngọc D.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án ph , chi ph tố tụng; quy định về quyền, nghĩa vụ thi hành án và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- Ngày 02-01-2022, bị đơn là ông Kiều T1 kháng cáo.
- Ngày 10-01-2022, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Lê V kháng cáo bản án.
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ các tài liệu chứng cứ, lời trình bày của các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Ngày 02-01-2022, bị đơn là ông Kiều T1 kháng cáo; ngày 10-01-2022, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Lê V kháng cáo bản án. Đơn kháng cáo của các đương sự là trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 273 của B luật Tố tụng dân sự, do đó H i đ ng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn b yêu cầu khởi kiện; người đại diện theo ủy quyền của bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và đề nghị không chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận toàn b yêu cầu phản tố của bị đơn. Như vậy, các đương sự không thỏa thuận đư c v i nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị H i đ ng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 của B luật Tố tụng dân sự:
- Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Lê V; không chấp nhận kháng caó của bị đơn là ông Kiều T1.
- Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
. Xét kháng cáo của đương sự:
. Về tố tụng:
Nguyên đơn, ông Phùng Văn T và bà Trần Thị Ngọc D khởi kiện yêu cầu Toà án bu c ông Kiều T1 phải tháo d tài sản có trên phần đất lấn chiếm và trả lại đất cho ông bà, cụ thể: (1) Phần diện t ch đất lấn chiếm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND thị xã H cấp ngày 07-10-2005 là 1,7 m2, (2) Phần diện t ch đất lấn chiếm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND thị xã H cấp ngày 02-11-2006 là 98,3 m2. Bị đơn ông Kiều T1 phản tố yêu cầu: (1) Bu c v ch ng ông Phùng Văn T và bà Trần Thị Ngọc D phải chấm dứt hành vi cản trở, tranh chấp quyền sử dụng đất v i ông, (2) Yêu cầu hủy Giấy CNQSDĐ do UBND thị xã (nay là thành phố) H i An cấp ngày 02-11-2006 cho ông Huỳnh Anh T2 và hủy đăng ký biến đ ng sang tên cho ông Phùng Văn T và bà Trần Thị Ngọc D ngày 20-5-2017, (3) Hủy Giấy CNQSDĐ do U (nay là thành phố) H i An cấp ngày 07-10-2005 cho ông Kiều C1 và bà Bùi Thị S và (4) Hủy đăng ký biến đ ng sang tên cho ông Phùng Văn T, bà Trần Thị Ngọc D ngày 20-11-2005; đơn phản tố của bị đơn là trư c thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao n p, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam thụ lý và xác định quan hệ pháp luật giải quyết trong vụ án là “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy quyết định cá biệt” là đúng quy định tại khoản 9 Điều 26, Điều 34, Điều 37 và Điều 200 của B luật Tố tụng dân sự.
Người có quyền l i nghĩa vụ liên quan là UBND thành phố H, Văn phòng Đ, bà Nguyễn Thị H, ông Huỳnh Anh T2, bà Bùi Thị S, ông Kiều Á, bà Kiều Thị N1, bà Kiều Thị L1, bà Kiều Thị M và ông Kiều Văn H1 vắng mặt, nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; do đó, Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định tại Điều 227 và Điều 228 của B luật Tố tụng dân sự.
. Về n i dung:
- Về diện t ch đất tranh chấp:
Theo Tr ch đo thửa đất tranh chấp do Chi nhánh Văn phòng Đ1 đo vẽ ngày 26-9-2019 (bút lục số 202), đư c các đương sự thống nhất thì diện t ch đất tranh chấp là 100 m2, g m 02 phần: (1) Phần diện t ch 1,7 m2 n m trong thửa đất số 287A, tờ bản đ số 3, diện t ch 200 m2 (nay là thửa đất số 99A, tờ bản đ số 60) tại khối B, phường T, thành phố H, đư c UBND thành phố H cấp Giấy CNQSDĐ cho ông Kiều C1 và bà Bùi Thị S ngày 07-10-2005, nay đã chuyển như ng cho ông Phùng Văn T, bà Trần Thị Ngọc D (năm 2017), (2) Phần diện t ch 98,3 m2 n m trong thửa đất số 282, tờ bản đ số 3, diện t ch 270 m2 (nay là thửa đất số 282, tờ bản đ số 60) tại khối B, phường T, thành phố H, đư c UBND thành phố H cấp Giấy CNQSDĐ cho ông Huỳnh Anh T2 ngày 02-11-2006, nay đã chuyển như ng cho ông Phùng Văn T, bà Trần Thị Ngọc D (năm 2017).
- Về ngu n gốc diện t ch đất tranh chấp:
Tại Công văn số 1722/UBND ngày 28-5-2018, UBND thành phố H xác định: Ông Kiều C1 và ông Kiều T1 kê khai chung thửa đất số 142, diện t ch 2113 m2 theo Chỉ thị 299/TTg. Khi thực hiện kê khai theo Nghị định 64/CP của Ch nh phủ, thì thửa đất trên đư c tách thành 03 thửa: Ông Kiều C1 kê khai và đư c UBND thành phố H cấp Giấy CNQSDĐ thửa đất số 287, diện t ch 756 m2. Đến năm 2005, ông Kiều C1 xin tách thành thửa đất số 287A diện t ch 200 m2 và chuyển như ng cho ông Phùng Văn T và bà Trần Thị Ngọc D (năm 2017). Ông Kiều P (cha ông Kiều Ta) kê khai và đư c UBND thành phố H cấp Giấy CNQSDĐ thửa đất số 286, diện t ch 870 m2. Bà Kiều Thị C2 kê khai và đư c UBND thành phố H cấp Giấy CNQSDĐ thửa đất số 282, diện t ch 270 m2. Sau đó, bà C2 chuyển như ng cho ông Huỳnh Anh T2 ngày 02-11-2006, nay ông Huỳnh Anh T2 đã chuyển như ng cho ông Phùng Văn T và bà Trần Thị Ngọc D (năm 2017).
- Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
+ Về yêu cầu bu c ông Kiều T1 trả lại phần diện t ch 1,7 m2:
Tại Công văn số 3503/UBND ngày 23-11-2020, UBND thành phố H xác định: Phần diện t ch tranh chấp 1,7 m2 đất n m trong thửa đất số 287A, tờ bản đ số 3, diện t ch 200 m2 (nay là thửa đất số 99A, tờ bản đ số 60) tại khối B, phường T, thành phố H, đư c UBND thành phố H cấp Giấy CNQSDĐ cho ông Kiều C1 và bà Bùi Thị S ngày 07-10-2005, nay đã chuyển như ng cho ông Phùng Văn T và bà Trần Thị Ngọc D (năm 2017). Diện t ch đất này n m trong thửa đất số 99A, tờ bản đ số 60 đã đư c cấp cho ông Phùng Văn T và bà Trần Thị Ngọc D, nhưng hiện nay ông Kiều T1 đang quản lý, sử dụng. Như vậy, phần diện t ch đất tranh chấp (1,7 m2), mặc dù ông Kiều T1 đang quản lý, sử dụng, nhưng ông Kiều T1 không kê khai, đăng ký và cũng không đư c cấp Giấy CNQSDĐ. Trên diện t ch đất tranh chấp này, ông Kiều T1 chỉ có các vật kiến trúc tạm là hàng rào lư i B40 tạm, trụ bê tông chôn tạm và có xây gạch không kiên cố (tháo d đư c). Do đó, Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam chấp nhậnyêu cầu của nguyên đơn; bu c ông Kiều T1 phải tháo d các vật kiến trúc trả lại diện t ch 1,7 m2 đất n m trong thửa đất số 187A, tờ bản đ số 3, diện t ch 200 m2 (nay là thửa đất số 99A, tờ bản đ số 60) tại khối B, phường T, thành phố H cho ông Phùng Văn T và bà Trần Thị Ngọc D là có căn cứ.
+ Về yêu cầu bu c ông Kiều T1 trả lại phần diện t ch 98,3 m2:
Diện t ch 98,3 m2 n m trong thửa đất số 282, tờ bản đ số 3, có tổng diện t ch là 270 m2 (nay là thửa đất số 282, tờ bản đ số 60) tại khối B, phường T, thành phố H, đư c UBND thành phố H đã cấp Giấy CNQSDĐ cho ông Huỳnh Anh T2 ngày 02-11-2006, nay đã chuyển như ng cho ông Phùng Văn T và bà Trần Thị Ngọc D (năm 2017). H i đ ng xét xử phúc thẩm thấy r ng:
Mặc dù, tại Công văn số 3503/UBND ngày 23-11-2020, UBND thành phố H xác định: Chỉ m t phần của diện t ch đất tranh chấp (98,3 m2) n m trong thửa đất số 282, tờ bản đ số 3, có tổng diện t ch là 270 m2 (nay là thửa đất số 282, tờ bản đ số 60) tại khối B, phường T, thành phố H, đư c UBND thành phố H cấp Giấy CNQSDĐ cho ông Kiều C1 và bà Bùi Thị S ngày 07-10-2005, nay đã chuyển như ng cho ông Phùng Văn T, bà Trần Thị Ngọc D (năm 2017), nhưngtheo Tr ch đo thửa đất tranh chấp do Chi nhánh Văn phòng Đ1 đo vẽ ngày 26-9-2019 (đư c các đương sự thống nhất), thì toàn b diện t ch đất tranh chấp 98,3 m2 n m hoàn toàn trong thửa đất số 282, tờ bản đ số 3, diện t ch 270 m2 (nay là thửa đất số 282, tờ bản đ số 60) tại khối B, phường T, thành phố H, đư c UBND thành phố H cấp Giấy CNQSDĐ cho ông Huỳnh Anh T2 ngày 02-11-2006, nay đã chuyển như ng cho ông Phùng Văn T và bà Trần Thị Ngọc D (năm 2017), hiện nay diện t ch tranh chấp này do ông Kiều T1 đang quản lý, sử dụng.
Như vậy, toàn b diện t ch đất tranh chấp (98,3 m2) do ông Kiều T1 đang quản lý, sử dụng, nhưng ông Kiều T1 không kê khai, đăng ký và cũng không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh phần diện t ch đất này thu c quyền sử dụng của mình. Trên diện t ch đất tranh chấp 98,3 m2, ông Kiều T1 có các vật kiến trúc kiên cố: 01 chái hiên có kết cấu trụ bê tông đúc sẵn, 01 khóm thờ, tường rào cổng ng . Đặt biệt là toàn b phần diện t ch đất tranh chấp 98,3m2 n m trư c nhà củaông K và đây là lối đi duy nhất từ nhà ông Kiều T1 ra đường công c ng. Trư c khi mua thửa đất số 282, tờ bản đ số 3, diện t ch 270 m2 từ ông Huỳnh Anh T2, ông Phùng Văn T đã biết diện t ch đất này (98,3 m2) bị tranh chấp và do ông Kiều T1 đang quản lý, sử dụng và ông Kiều T1 chỉ sử dụng diện t ch 98,3 m2 đất này làm lối đi duy nhất từ nhà ông Kiều T1 ra đường công c ng, nhưng ông T v n mua. Do đó, Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, nhưng không bu c ông Kiều T1 tháo d các vật kiến trúc để trả lại phần diện t ch 98,3 m2 n m trong thửa đất số 282, tờ bản đ số 3, diện t ch 270 m2 (nay là thửa đất số 282, tờ bản đ số 60) tại khối bàu S, phường T, thành phố H cho ông Phùng Văn T và bà Trần Thị Ngọc D, mà bu c ông Kiều T1 phải trả 60% giá trị của 98,3 m2 đất theo Chứng thư thẩm định giá số 118/2021/CTTĐG-QTG ngày 13-7-2021 của Công ty Cổ phần T5 là 355.063.800 đ ng cho ông Phùng Văn T và bà Trần Thị Ngọc D là đúng quy định tại Điều 254 của B luật Dân sự; bảo đảm đư c quyền và l i ch h p pháp của cả hai bên đương sự.
- Về yêu cầu phản tố của bị đơn:
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn (ông Kiều T1) phản tố, yêu cầu Tòa án: (1) Bu c v ch ng ông Phùng Văn T và bà Trần Thị Ngọc D phải chấm dứt hành vi cản trở, tranh chấp quyền sử dụng đất v i ông, (2) Yêu cầu hủy Giấy CNQSDĐ do UBND thị xã (nay là thành phố) H i An cấp ngày 02-11-2006 cho ông Huỳnh Anh T2 và hủy đăng ký biến đ ng sang tên cho ông Phùng Văn T và bà Trần Thị Ngọc D ngày 20-5-2017, (3) Hủy Giấy CNQSDĐ do U (nay là thành phố) H i An cấp ngày 07-10-2005 cho ông Kiều C1 và bà Bùi Thị S và (4) Hủy đăng ký biến đ ng sang tên cho ông Phùng Văn T, bà Trần Thị Ngọc D ngày 20-11-2005” và tại Tòa án cấp phúc thẩm, ông Kiều T1 cho r ng chữ ký trong H p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất ngày 20-4-2006, giữa bà Kiều Thị C2 v i ông Huỳnh Anh T2 (sau này chuyển như ng cho ông Phùng Anh T4) không phải là của bà C2, nên đã cung cấp các tài liệu có chữ ký, chữ viết của bà C2 và đề nghị đư c giám định các tài liệu này. Để giải quyết triệt để vụ án, H i đ ng xét xử phúc thẩm đã quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm và ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 02/2023/QĐ-TCGĐ ngày 03-3-2023 để giám định chữ ký, chữ viết của bà Kiều Thị C2. Tại Kết luận giám định số 16/KL-KTHS ngày 03-7-2023, Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận: “Không đủ cơ sở để kết luận chữ viết ghi họ tên Kiều Thị C2 dưới mục “Đại diện bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ viết đứng tên bà Kiều Thị C2 trên các tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu từ M1 đến M6) là có phải do cùng một người viết ra hay không”; đ ng thời, ông Kiều T1 cho r ng diện t ch đất tranh chấp (98,3 m2) do ông quản lý, sử dụng, nhưng ông Kiều T1 không kê khai, đăng ký và không cung cấp đư c tài liệu, chứng cứ để chứng minh phần diện t ch đất này thu c quyền quản lý,sử dụng h p pháp của mình. Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn (ông Kiều T1) là có căn cứ, đúng pháp luật.
Như vậy, kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và kháng cáo của bị đơn đã đư c H i đ ng xét xử phúc thẩm xem xét, nhưng đều không có cơ sở để chấp nhận.
. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, H i đ ng xét xử phúc thẩm không xem xét.
. Về án ph : Do kháng cáo không đư c chấp nhận, nên ông Kiều T1 phải chịu án ph dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của B luật Tố tụng dân sự.
- Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Lê V.
- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn là ông Kiều T1.
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 69/2021/DSST ngày 21-12-2021 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam.
2. Áp dụng Điều 117, 163, 164, 166, 169 và 254 của B luật Dân sự; Điều 32 và Điều 105 của Luật Đất đai năm 2003, xử:
2.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Phùng Văn T và bà Trần Thị Ngọc D:
- Bu c bị đơn là ông Kiều T1 phải tháo d các vật kiến trúc để trả lại phần diện t ch 1,7 m2 đất n m trong thửa đất số 287A, tờ bản đ số 3, diện t ch 200 m2 (nay là thửa đất số 99A, tờ bản đ số 60) tại khối B, phường T, thành phố H cho ông Phùng Văn T và bà Trần Thị Ngọc D (có sơ đ bản vẽ kèm theo bản án sơ thẩm).
2.2. Công nhận phần diện t ch 98,3 m2 đất n m trong thửa đất số 282, tờ bản đ số 3, diện t ch 270 m2 (nay là thửa đất số 282, tờ bản đ số 60) tại khối B, phường T, thành phố H thu c quyền quản lý, sử dụng của ông Kiều T1 (có sơ đ bản vẽ kèm theo bản án sơ thẩm).
- Bu c ông Kiều T1 phải trả lại giá trị của diện t ch đất (98,3 m2) là 355.063.800 đ ng (ba trăm năm mươi lăm triệu không trăm sáu mươi ba nghìn tám trăm đ ng) cho ông Phùng Văn T và bà Trần Thị Ngọc D.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
2.3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Kiều T1 về việc: Bu c v ch ng ông Phùng Văn T và bà Trần Thị Ngọc D chấm dứt hành vi cản trở, tranh chấp quyền sử dụng đất v i ông Kiều T1; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND thị xã (nay là thành phố) H i An cấp ngày 02-11-2006 cho ông Huỳnh Anh T2; hủy đăng ký biến đ ng sang tên cho ông Phùng Văn T và bà Trần Thị Ngọc D ngày 20-5-2017; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND thị xã (nay là thành phố) H i An cấp ngày 07-10-2005 cho ông Kiều C1 và bà Bùi Thị S và hủy đăng ký biến đ ng sang tên cho ông Phùng Văn T, bà Trần Thị Ngọc D ngày 20-11-2005.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Về án ph dân sự phúc thẩm:
Căn cứ khoản 1 Điều 148 của B luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 34 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc h i về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Nam; - TANDTC - Vụ II; - VKSNDCC tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Quảng Nam; - Cục THA dân sự tỉnh Quảng Nam; - Các đương sự (theo địa chỉ); - Lưu: H/sơ vụ án, Phòng HCTP, LTHS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Việt Cường |