vanban.org

Bản án 26

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020 và năm 2025); khoản 1

trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Điều 41 Nghị định số: 116/2021/NĐ-CP ngày 21-12-2021 của

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Văn T"
  • Tòa quyết gì? phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020 và năm 2025); khoản 1
  • Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 11 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC Quy đị…; Điều 20 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 26/2026/QĐ-TA Lâm Đồng, ngày 14 tháng 5 năm 2026

Số: 26/2026/QĐ-TA Lâm Đồng, ngày 14 tháng 5 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Với

thành phần tiến hành phiên họp gồm có: 1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Mỹ Trang. 2. Thư ký phiên họp: Bà Phan Thị Hòa. Ngày 14 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Lâm Đồng tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 18/QĐ-MPH ngày 07 tháng 5 năm 2026 đối với: Họ và tên: Nguyễn Văn T; giới tính: Nam; sinh ngày 18 tháng 9 năm 1994; căn cước công dân số: X, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ Công an, ngày cấp: 30-10-2024; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 8/12; nơi cư trú: Thôn Q, xã K, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Không; tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 03/2018/HS-ST ngày 17-01-2018 của Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông (cũ) xử phạt 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 64/2023/HS-ST ngày 15-11-2023 của Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông (cũ) xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chưa được xóa án tích; tiền sự: Không; con ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị H – Có đơn xin vắng mặt tại phiên họp. Có sự tham gia của: 1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Phạm Văn D – Phó Trưởng Công an xã K, tỉnh Lâm Đồng; 2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Lâm Đồng: Ông Nguyễn Văn Khẩn – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Tại bản tường trình ngày 09-4-2026 và Biên bản ghi lời khai ngày 09-4- 2026, người bị đề nghị Nguyễn Văn T khai nhận: T bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2017, tần suất sử dụng mỗi tuần khoảng hai đến ba lần, mỗi lần sử dụng hết số tiền khoảng 200.000 đồng đến 300.000 đồng, loại ma túy T sử dụng là ma túy đá (Methaphetamin), hình thức sử dụng là hút thông qua bộ dụng cụ sử dụng ma

túy. Sau khi sử dụng ma túy, T cảm thấy tinh thần sảng khoái, đầu óc có ảo giác. Lần cuối T sử dụng ma túy trước khi bị phát hiện là vào ngày 07-4-2026. Ngày 10-4-2026, Công an xã K, tỉnh Lâm Đồng ban hành Công văn số: 433/GĐN- CAX đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy của T. Tại Phiếu trả lời kết quả ngày 12-4-2026 của Trạm y tế xã K thể hiện: Nguyễn Văn T nghiện ma túy (Methamphetamin). Ngày 24-4-2026, Trưởng Công an xã K, tỉnh Lâm Đồng ban hành Công văn số: 38/ĐN-CNBB đề nghị xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T. Tại phiên họp, đại diện Công an xã K, tỉnh Lâm Đồng phát biểu ý kiến: Đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T thời hạn từ 16 (mười sáu) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng tại Cơ sở cai nghiện số 04 tỉnh Lâm Đồng; địa chỉ: Bon B, xã T, tỉnh Lâm Đồng. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- Lâm Đồng phát biểu ý kiến: Về thủ tục tố tụng: Việc lập hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T đã tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật. Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của Trưởng Công an xã K, tỉnh Lâm Đồng về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T thời hạn từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng tại Cơ sở cai nghiện số 04 tỉnh Lâm Đồng. XÉT THẤY: Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc đã được thẩm tra tại phiên họp, Thẩm phán phiên họp nhận định: [1]. Về tố tụng: [1.1]. Về hồ sơ đề nghị: Hồ sơ đề nghị của Trưởng Công an xã K, tỉnh Lâm Đồng được lập theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 7, điểm b khoản 2 Điều 8 Thông tư liên tịch số: 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01-3- 2025 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước. [1.2]. Về thẩm quyền giải quyết: Trưởng Công an xã K, tỉnh Lâm Đồng đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T, nơi cư trú: Thôn Q, xã K, tỉnh Lâm Đồng nên Tòa án nhân dân khu vực 7 - Lâm Đồng thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 105 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

[1.3]. Về thời hiệu: Nguyễn Văn T trình bày lần cuối T sử dụng ma túy trước khi bị phát hiện là vào ngày 07-4-2026. Ngày 04-5-2026, Tòa án thụ lý vụ việc là còn thời hiệu theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020). [1.4]. Người bị đề nghị Nguyễn Văn T có đơn xin vắng mặt tại phiên họp nên căn cứ khoản 2 Điều 20 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân năm 2022, Tòa án tiến hành mở phiên họp vắng mặt người bị đề nghị. [2]. Về nội dung: [2.1]. Nguyễn Văn T là người nghiện ma túy, đã nhiều lần thực hiện hành vi sử dụng trái phép ma túy đá với hình thức hút. Kết quả xét nghiệm thể hiện T có nghiện ma túy, loại ma túy Methamphetamin. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của T đã vi phạm khoản 5 Điều 5 của Luật Phòng chống ma túy năm 2021. Tại Biên bản giao nhận thông báo kết quả xác định tình trạng nghiện chất ma túy ngày 12-4-2026, Công an xã K, tỉnh Lâm Đồng đã hướng dẫn T liên hệ với các cơ quan chuyên môn để thực hiện các biện pháp cai nghiện ma túy trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận thông báo nhưng T không thực hiện. Xét thấy, T là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên và không đăng ký cai nguyện ma túy tự nguyện, thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); Điều 32 của Luật Phòng chống ma túy; Điều 41 Nghị định số: 116/2021/NĐ-CP ngày 21-12-2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy. [2.2]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của người bị đề nghị: - Về tình tiết tăng nặng: Không. - Về tình tiết giảm nhẹ: Người bị đề nghị đã tự nguyện khai báo các hành vi vi phạm của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012. - Về nhân thân: Người bị đề nghị có nhân thân xấu, thực hiện hành vi vi phạm khi đang có 02 tiền án về các tội liên quan đến ma túy nên cần áp dụng thời hạn nghiêm khắc để đảm bảo cho việc cai nghiện của người bị đề nghị. [2.3]. Từ những vấn đề phân tích, nhận định nêu trên, xét thấy có căn cứ chấp nhận đề nghị của Trưởng Công an xã K, tỉnh Lâm Đồng về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T để chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc, tạo điều kiện cho T cai nghiện hiệu quả, trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội. [2.4]. Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ khoản 2 Điều 9, Điều 95, Điều 96, khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020 và năm 2025); khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng chống ma túy; khoản 2 Điều 20, Điều 32 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Điều 41 Nghị định số: 116/2021/NĐ-CP ngày 21-12-2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; khoản 1 Điều 7, điểm b khoản 2 Điều 8, Điều 11 Thông tư liên tịch số: 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01-3-2025 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước: 1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện số 04 tỉnh Lâm Đồng đối với Nguyễn Văn T. 2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. 3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định: - Người bị đề nghị vắng mặt tại phiên họp có quyền khiếu nại quyết định trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định. - Trưởng Công an xã K, tỉnh Lâm Đồng có quyền kiến nghị quyết định; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Lâm Đồng có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định. 4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị. 5. Cơ quan thi hành

quyết định: Công an xã K, tỉnh Lâm Đồng; Cơ sở cai nghiện số 04 tỉnh Lâm Đồng (địa chỉ: Bon B, xã T, tỉnh Lâm Đồng).

Cỡ chữ